Sampling and statistical significance – Lấy mẫu và ý nghĩa thống kê

Sampling and statistical significance

In this chapter, we shall be encountering some issues which are fundamental to an appreciation of how people (or whatever is the unit of analysis) should be selected for inclusion in a study and of how it is possible to generalise to the population from which people are selected. These two related issues are concerned with sampling and the statistical significance of results. In examining sampling we shall be examining the procedures for selecting people so that they are representative of the population from which they are selected. The topic of statistical significance raises the issue of how confident we can be that findings relating to a sample of individuals will also be found in the population from which the sample was selected.

Trong chương nầy, chúng ta sẽ gặp phải một số vấn đề căn bản cho việc đánh giá cách chọn người (hay bất cứ một đơn vị phân tích (unit of analysis) nào) tham gia một cuộc nghiên cứu và cách tổng quát hoá đối với dân số (population) từ những người được lựa chọn. Hai vấn đề liên quan nầy đề cập đến việc lấy mẫu (sampling) và ý nghĩa thống kê (statistical significance) của kết quả. Trong khảo sát việc lấy mẫu, chúng ta sẽ khảo sát trình tự chọn lựa người để họ đại diện cho dân số mà từ đó họ được chọn. Đề tài ý nghĩa thống kê đặt ra vấn đề chúng ta có thể chắc chắn thế nào về kết quả tìm thấy liên quan với một mẫu các cá nhân cũng sẽ được tìm thấy từ dân số mà từ đó mẫu được chọn lọc.

SAMPLING

LẤYMẪU (SAMPLING)

The issue of sampling is important because it is rarely the case that we have sufficient time and resources to conduct research on all of those individuals who could potentially be included in a study. Two points of clarification are relevant at this early stage. We talk about sampling from a population in the introduction to this chapter. It should be recognised that when we sample it is not necessarily people who are being sampled. We can just as legitimately sample other units of analysis such as organisations, schools, local authorities and so on. Second, by a ‘population’ is meant a discrete group of units of analysis and not just populations in the conventional sense, such as the population of England and Wales. Populations can be populations of towns, of particular groups (for example, all accountants in the UK), of individuals in a firm, or of firms themselves. When we sample, we are selecting units of analysis from a clearly defined population.

Vấn đề lấy mẫu quan trọng vì vì hiếm có tình huống chúng ta có đủ thời gian và nguồn lực để tiến hành nghiên cứu trên tất cả cá thể được có khả năng tính đến trong một cuộc nghiên cứu. Có hai điểm sáng tỏ trong giai đoạn đầu tiên nầy. Chúng ta nói đến lấy mẫu từ một dân số ở phần đầu của chương nầy. Phải thừa nhận rằng khi chúng ta lấy mẫu thì không cần thiết lấy mẫu người. Chúng ta có thể lấy mẫu hợp lệ các đơn vị phân tích khác như tổ chức, trường học, chính quyền địa phương, vân vân. Thứ hai, ‘dân số’ có nghĩa là một nhóm cụ thể đơn vị phân tích và không chỉ có nghĩa dân số theo nghĩa thông thường, như dân số của Anh và Wales. Dân số có thể là dân số của thị trấn, của một nhóm đặc thù nào đó (ví dụ, tất cả nhân viên kế toán ở Anh), của tất cả cá nhân trong một doanh nghiệp, hay của chính các doanh nghiệp. Khi chúng ta lấy mẫu, chúng ta đang chọn ra các đơn vị phân tích từ một dân số được xác định rõ ràng.

Clearly, some populations can be very large, and it is unlikely that all the units in a population can be included because of the considerable time and cost that such an exercise would entail. Sometimes, they can be sufficiently small for all units to be contacted; or if they are not too large, it may be possible to carry out postal questionnaire or telephone interview surveys on a whole population. On the other hand, researchers are very often faced with the need to sample. By and large, researchers will want to form a representative sample, that is, a sample that can be treated as though it were the population. It is rare that perfectly representative samples can be created, but the chances of forming a representative sample can be considerably enhanced by probability sampling. The distinction between probability and non-probability sampling is a basic distinction in discussions of sampling. With probability sampling, each unit of a population has a specifiable probability of inclusion in a sample. In the basic forms of probability sampling, such as simple random samples (see below), each unit will have an equal probability of inclusion.

Hiển nhiên là dân số có thể rất lớn và hầu như không thể bao gồm tất cả các đơn vị của một dân số vì tiến hành điều đó mất nhiều thời gian và chi phí. Đôi khi, có thể tiếp xúc một phần nhỏ các đơn vị cũng đủ; hay nếu chúng không lớn quá, có thể tiến hành khảo sát bằng các bảng câu hỏi gửi qua đường bưu điện hay phỏng vấn qua điện thoại toàn thể dân số. Mặt khác, các nhà nghiên cứu rất thường gặp phải nhu cầu lấy mẫu. Nhìn chung, các nhà nghiên cứu muốn tạo nên các mẫu đại diện (representative sample), có nghĩa là, một mẫu có thể được xử lý như thể nó là dân số. Hiếm khi có thể tạo ra được một mẫu đại diện hoàn hảo, nhưng khả năng tạo nên một mẫu đại diện có thể được nâng lên đáng kể thông qua lấy mẫu xác suất (probability sampling). Sự khác biệt giữa lấy mẫu xác suất và phi-xác suất (non-probability sampling) là sự khác biệt cơ bản khi thảo luận về lấy mẫu. Trong lấy mẫu xác suất, mỗi đơn vị của một dân số có một xác suất cụ thể về khả năng có mặt trong một mẫu. Trong các hình thức lấy mẫu xác suất cơ bản, như mẫu ngẫu nhiên đơn giản (simple random samples) (xem phần dưới), mỗi một dơn vị có một xác suất có mặt bằng nhau.

As an example of a non-probability sampling procedure, consider the following scenario. An interviewer is asked to obtain answers to interview questions from fifty people – twenty-five of each gender. She positions herself in a shopping area in a town at 9.00 a.m. on a Monday and starts interviewing people one by one. Will a representative sample be acquired? While it is not impossible that the sample is representative, there are too many doubts about its representativeness. For example, most people who work will not be shopping; she may have chosen to interview people who were well-dressed; and some people may be more likely than others to use the shops by which she positions herself.

Xét bối cảnh sau như là một ví dụ về trình tự lấy mẫu phi-xác suất. Một người phỏng vấn có yêu cầu nhận được câu trả lời cho các câu hỏi phỏng vấn từ năm mươi người – mỗi giới tính hai mươi lăm người. Cô ta tự mình đứng ở một khu vực mua sắm trong một thị trấn từ 9.00 sáng ngày thứ hai và bắt đầu phỏng vấn từng người một. Có thu được một mẫu đại diện hay không? Trong khi không phải là không thể thu được mẫu đại diện, có quá nhiều nghi vấn về tính đại diện của nó. Chẳng hạn, phần lớn số người làm việc sẽ không đi mua sắm; cô ta có lẽ chọn phỏng vấn những người ăn mặc đẹp; và một số người có thể mua sắm nhiêu hơn người khác ở những cửa tiệm mà cô ấy đứng cạnh.

In other words, there is a strong chance that the sample is not representative of the people of the town. If the sample is unrepresentative, then our ability to generalise our findings to the population from which it was selected is sharply curtailed. If we do generalise, our inferences may be incorrect. If the sample is heavily biased towards people who do not work, who appeal to the interviewer because of their appearance and who only shop in certain retail outlets, it is likely to be a poor representation of the wider population.

Nói cách khác, có khả năng to lớn là mẫu đó không đại diện cho những người của thị trấn đó. Nếu một mẫu không đại diện thì khả năng của chúng ta tổng quát hoá kết quả tìm thấy đối với dân số từ đó nó được chọn lọc bị giảm nghiêm trọng. Nếu chúng ta tổng quát hoá, suy luận của chúng ta có thể không đúng. Nếu mẫu đó thiên lệch nặng nề về phía những người không đi làm, những người được người phỏng vấn chú ý vì sự có mặt của họ và những người chỉ mua sắm ở một số của hàng bán lẻ nhất định, hầu như đó là một sự đại diện kém cỏi của một dân số lớn hơn.

By contrast, probability sampling permits the selection of a sample that should be representative. The following is a discussion of the main types of probability sample that are likely to be encountered.

Ngược lại, lấy mẫu xác suất cho phép chọn lọc một mẫu cso tính đại diện. Phần tiếp theo trình bày các dạng mẫu xác suất chính thường gặp.

Simple random sample

Mẫu ngẫu nhiên giản đơn (Simple random sample)

The simple random sample is the most basic type of probability sample. Each unit in the population has an equal probability of inclusion in the sample. Like all forms of probability sample, it requires a sampling frame which provides a complete listing of all the units in a population. Let us say that we want a representative sample of 200 non-manual employees from a firm which has 600 non-manual employees. The sample is often denoted n and the population N. A sampling frame is constructed which lists the 600 non-manual employees. Each employee is allocated a number between 1 and N (that is, 600). Each employee has a probability of n /N of being included in the sample, that is, 1 in 3. Individuals will be selected for inclusion on a random basis to ensure that human choice is eliminated from decisions about who should be included and who excluded.

Mẫu ngẫu nhiên giản đơn là dạng mẫu xác suất căn bản nhất. Mỗi đơn vị trong dân số có một xác suất có mặt bằng nhau trong mẫu nầy. Giống như tất cả hình thức mẫu giản đơn, nó yêu cầu một tập hợp đơn vị mẫu gốc (sampling frame, xem http://www.statistics.com/resources/glossary/s/smplframe.php) cung cấp một danh sách đầy đủ các đơn vị trong một dân số. Giả sử chúng ta muốn một mẫu đại diện có 200 công nhân không làm việc thủ công ở một doanh nghiệp có 600 công nhân không làm việc thủ công. Mẫu thường được biểu thị là n và dân số là N. Một tập hợp mẫu gốc được xây dựng liệt kê 600 công nhân không thủ công. Mỗi công nhân được gán một số giữa 1 và N (tức là, 600). Mỗi công nhân có một xác suất có mặt trong mẫu là n/N, tức là, 1 trên 3. Các cá nhân được chọn lọốcc mặt dựa trên một nền tảng ngẫu nhiên để bảo đảm rằng sự lựa chọn mang tính người (human choice) bị loại bỏ khỏi các quyết định nên chọn ai nên bỏ ai.

Each individual in the sampling frame is allocated a number 1 to N. The idea is to select n from this list. To ensure that the process is random, a table of random numbers should be consulted. These tables are usually in columns of five-digit numbers. For example, the figures might be:

Mỗi cá nhân trong tập hợp mẫu gốc được gán một số từ 1 đến N. Ý tưởng là chọn n từ danh sách nầy. Để bảo đảm quá trinh nầy là ngẫu nhiên, một bảng các số ngẫu nhiên được sử dụng. Các bảng nầy luôn luôn ở các cột có năm chữ số. Ví dụ, các số có thể là:

26938

37025

00352

Since we need to select a number of individuals which is in three digits (that is, 200), only three digits in each five-digit random number should be considered. Let us say that we take the last three digits in each random number, that is, we exclude the first two from consideration. The first case for inclusion would be that numbered 938. However, since the population is only 600, we cannot have a case numbered 938, so this figure is ignored and we proceed to the next random number. The figure 37025 implies that the case numbered 025 will be the first case for inclusion. The person numbered 025 will be the first sampled case. The next will be the person numbered 352, and so on. The process continues until n (that is, 200) units have been selected.

Vì chúng ta cần lựa chọn một số lượng cá nhân gồm có ba chữ số (tức là, 200), chỉ nên xem xét ba chữ số trong mỗi số ngẫu nhiên có năm chữ số. Giả sử chúng ta lấy ba chữ số cuối trong mỗi số ngẫu nhiên, nghĩa là, chúng ta bỏ hai số đầu không xem xét. Trường hợp (case) đầu tiên có mặt là số 938. Tuy vậy, do dân số chỉ 600, chúng ta không thể có một trường hợp được đánh số 938, vì thế số nầy được bỏ qua và chúng ta đi tiếp đến số ngẫu nhiên kế tiếp. Số 37025 nghĩa là trường hợp 025 sẽ là trường hợp đầu tiên có mặt. Người được đánh số 025 sẽ là trường hợp đầu tiên có mặt trong mẫu. Kế tiếp sẽ là người được đánh số 352, và vân vân. Qua strình đó tiếp tục cho đến khi n (nghĩa là, 200) đơn vị được chọn.

By relying on a random process for the selection of individuals, the possibility of bias in the selection procedure is largely eliminated and the chances of generating a representative sample is enhanced. Sometimes, a systematic sample is selected rather than a simple random sample. With a systematic sample, the selection of individuals is undertaken directly from the sampling frame and without the need to connect random numbers and cases. In the previous example, a random start between 1 and 3 would be made.

Dựa vào quá trình ngẫu nhiên chọn lựa các cá nhân, khả năng sai lệch (bias) trong quá trình chọn hầu như bị loại bỏ và khả năng tạo ra một mẫu đại diện được nâng lên. Đôi khi, một mẫu có tính hệ thống (systematic sample) được chọn thay vì một mẫu ngẫu nhiên giản đơn. Với một mẫu có tính hệ thống, việc chọn các cá nhân đựơc thực hiện trực tiếp từ tập hợp mẫu gốc và không cần gắn với các số và các trường hợp ngẫu nhiên. Trong ví dụ trước, một bắt đầu ngẫu nhiên giữa 1 và 3 sẽ được thực hiện.

Let us say that the number is 1. The first case on the sampling frame would be included. Then, every third case would be selected, since 1 in 3 must be sampled. Thus, the fourth, seventh, tenth, thirteenth and so on would be selected. The chief advantage of the systematic sample over the simple random sample is that it obviates the need to plough through a table of random numbers and to tie in each number with a corresponding case. This procedure can be particularly time-consuming when a large sample must be selected. However, in order to select a systematic sample, the researcher must ensure that there is no inherent ordering to the list of cases in the sampling frame, since this would distort the ensuing sample and would probably mean that it was not representative.

Giả sử số đó là 1. Trường hợp đầu tiên của tập hợp mẫu gốc sẽ có mặt. Tiếp đó, mỗi trường hợp thứ ba sẽ được chọn, vì 1 trong 3 phải có trong mẫu. Như thế, thứ tư, thứ bảy, thứ mười, thứ mười ba và cứ thế được chọn. Ưu điểm chính của mẫu hệ thống nầy so với mẫu ngẫu nhiên giản đơn là nó xoá bỏ yêu cầu cày xới khắp bảng các số ngẫu nhiên và gắn mỗi một số cho một trường hợp tương ứng. Quá trình nầy đặc biệt mất thời gian khi phải chọn một mẫu lớn. Tuy nhiên, để chọn một mẫu hệ thống, nhà nghiên cứu phải bảo đảm không có sự sắp xếp có trước đối với danh sách các trường hợp trong tập hợp mẫu gốc, do điều nầy sẽ làm biến dạng mẫu tiếp đó và sẽ có nghãi là nó không đại diện.

Stratified sampling
Lấy mẫu phân lớp (Stratified sampling)

Stratified sampling is commonly used by social scientists because it can lend an extra ingredient of precision to a simple random or systematic sample. When selecting a stratified sample, the researcher divides the population into strata. The strata must be categories of a criterion. For example, the population may be stratified according to the criterion of gender, in which case two strata – male and female – will be generated. Alternatively, the criterion may be department in the firm, resulting in possibly five strata: production, marketing, personnel, accounting, and research and development.

Lấy mẫu phân lớp thường được các nhà khoa học xã hội sử dụng vì nó có thể thêm vào một thành phần chính xác cộng thêm đối với mẫu ngẫu nhiên giản đơn hay mẫu hệ thống. Khi chọn một mẫu phân lớp, nhà nghiên cứu chia dân số thành các lớp (strata). Lớp đó phải là các loại (categories) của một tiêu chí (criterion). Chẳng hạn, dân số có thể được phân lớp theo tiêu chí giới tính, trong trường hợp đó hai lớp – nam và nữ – được tạo ra. Cách khác, tiêu chí có thể là phòng ban trong một doanh nghiệp, kết quả là có thể có năm lớp: sản xuất, tiếp thị, nhân sự, kế toán, nghiên cứu và phát triển.

Provided that the information is readily available, people are grouped into the strata. A simple random or systematic sample is then taken from the listing in each stratum. It is important for the stratifying criterion to be relevant to the issues in which the researcher is interested; it should not be undertaken for its own sake. The researcher may be interested in how the attitudes of non-manual employees are affected by the department in the firm to which they are attached. The advantage of stratified sampling is that it offers the possibility of greater accuracy, by ensuring that the groups which are created by a stratifying criterion are represented in the same proportions as in the population.

Table 6.1 provides an illustration of the idea of a stratified sample. The table provides the numbers of non-manual personnel in each department in the first column and the number of each department (that is, stratum) that would be selected on a 1 in 3 basis. The important point to note is that the proportions of personnel from each department in the sample are the same as in the population. The largest department – production – has 35 per cent of all non-manual employees in the firm and 35 per cent of non-manual employees in the sample.

Bảng 6.1 trình bày minh hoạ ý tưởng về một mẫu phân lớp. Bảng nầy cung cấp các con số nhân viên không làm thủ công trong mỗi phòng ban ở cột thứ nhất và số lượng mỗi phòng (tức là, lớp) được chọn trên nền tảng 1 trong 3. Điểm quan trọng cần lưu ý là tỉ lệ nhân viên từ mỗi phòng ban là trong mẫu bằng với tỉ lệ trong dân số. Phòng lớn nhất – sản xuất – có 35 phần trăm của toàn bộ nhân viên không làm thủ công trong doanh nghiệp và 35 phần trăm của nhân viên không làm thủ công trong mẫu.

Bảng 6.1 Xây dựng một mẫu phân lớp : nhân viên làm việc không thủ công trong doanh nghiệp

Department

Population

N

Sample

n

Production

210

70

Marketing

120

40

Personnel

63

21

Accounting

162

54

Research and development

45

15

Total

600

200

A simple random or systematic sample without stratification might have achieved the same result, but a stratified sample greatly enhances the likelihood of the proper representation of strata in the sample. Two or more stratifying criteria can be employed in tandem. For example, if the researcher were interested in the effects of gender on job attitudes, as well as belonging to different departments, we would then have ten strata (five departments × two sexes), that is, men and women in production, men and women in marketing, and so on. A 1 in 3 sample would then be taken from each of the ten strata.

Một mẫu ngẫu nhiên giản đơn hay hệ thống không phân lớp có thể đạt được ùng kết quả, nhưng mẫu phân lớp làm tăng rất lớn khả năng đại diện thích đáng của lớp trong mẫu đó. Hai hay nhiều tiêu chí phân lớp có dụng được sử dụng lần lượt. Chẳng hạn, nếu nhà nghiên cứu quan tâm đến hiệu ứng của giới tính lên thái độ làm việc, cũng như thuộc về các phòng ban khác nhau, chúng ta sẽ có mười lớp (năm phòng x hai giới tính), có nghĩa là, nam và nữ trong sản xuất, nam và nữ trong tiếp thị, và vân vân. Một mẫu 1 trong 3 sẽ được lấy từ mỗi lớp trong mười lớp nầy.

If the numbers in some strata are likely to be small, it may be necessary to sample disproportionately. For example, we may sample 2 in 3 of those in Research and Development. This would mean that thirty, rather than fifteen, would be sampled from this department. However, to compensate for the extra fifteen individuals sampled in Research and Development, slightly fewer than 1 in 3 in Production and in Accounting may need to be sampled. When this occurs, it has to be recognised that the sample is differentially weighted relative to the population, so that estimates of the sample mean will have to be corrected to reflect this weighting.

Nếu số lượng trong một vài lớp tương đối nhỏ, có thể cần phải lấy mẫu không cân đối (disproportionately). Chẳng hạn, chúng ta có thể lấy mẫu 2 trong 3 ở phòng Nghiên cứu và Phát triển. Điều nầy có nghĩa là ba mươi, thay vì mười lăm, sẽ được lấy mẫu từ phòng nầy. Tuy vậy, để cân bằng cho mười lăm cá nhân tăng thêm ở phòng Nghiên cứu và Phát triển, ở phòng Sản xuất và phòng Kế toán có thể cần phải lấy mẫu ít hơn. Khi điều nầy xuất hiện, cần phải thừa nhận mẫu đó được đánh trọng số (weight) khác biệt đối với dân số đó, do đó số ước tính giá trị trung bình (mean) của mẫu phải được hiệu chỉnh để phản ánh việc đánh trọng số (weighting) nầy.

Multistage cluster sampling
Lấy mẫu theo cụm nhiều bước (Multistage cluster sampling)

One disadvantage of the probability samples covered so far is that they do not deal very well with geographically dispersed populations. If we took a simple random sample of all chartered accountants in the UK or indeed of the population of the UK itself, the resulting sample would be highly scattered. If the aim were to conduct an interview survey, interviewers would spend a great deal of time and money travelling to their respondents. A multistage cluster sample is a probability sampling procedure that allows such geographically dispersed populations to be adequately covered, while simultaneously saving interviewer time and travel costs.

Một nhược điểm của các mẫu xác suất trình bầy từ đấu đến đây là chúng không xử lý tốt các dân số phân tán về mặt địa lý. Nếu chúng ta lấy một mẫu ngẫu nhiên giản đơn các kế toán viên được công nhân ở Anh hay chính dân số Anh, mẫu thu được sẽ rất rải rác. Nếu mục đích là tiến hành một khảo sát phỏng vấn, người phỏng vấn sẽ tốn rất nhiều thời gian và tiền bạc đi lại để gặp các người được phỏng vấn (respondents). Một mẫu cụm nhiều bước là qui trình lấy mẫu xác suất cho phép dân số phân tán về mặt địa lý được xử lý một cách thoả đáng mà vẫn tiết kiệm được thời gian và chi phí đi lại của người phỏng vấn.

Initially, the researcher samples clusters, that is, areas of the geographical region being covered. The case of seeking to sample households in a very large city can be taken as an example of the procedure. At the first stage, all the electoral wards in the city would be ascribed a number from 1 to N and a simple random sample of wards selected. At the second stage, a simple random sample of streets in each ward might be taken. At the third stage, a simple random sample of households in the sampled streets would be selected from the list of addresses in the electoral rolls for the relevant wards.

Đầu tiên, nhà nghiên cứu lấy mẫu các cụm (clusters), tức là, diên tích các khu vực địa lý được xem xét. Trường hợp tìm kiếm để lấy mẫu hộ gia đình trong một thành phố rất lớn có thể là một ví dụ của qui trình nầy. Ở bước (stage) thứ nhất, tất cả các khu vực bầu cử trong thành phố đó được gán một số từ 1 đến N và một mẫu ngẫu nhiên giản đơn các khu vực nầy được chọn. Ở bước thứ hai, một mẫu ngẫu nhiên các đường phố trong mỗi khu vực đó được lấy. Ở bước thứ ba, một mẫu ngẫu nhiên giản đơn các hộ gia đình trên các đường phố đã được lấy mẫu sẽ được chọn từ danh sách các địa chỉ trong danh sách bầu cử cho các khu vực tương ứng.

By concentrating interviewers in small regions of the city, much time and travel cost can be saved. Very often, stratification accompanies the sampling of clusters. For example, wards might be categorised in terms of an indicator of economic prosperity (for example, high, medium and low) such as the percentage of heads of household in professional and managerial jobs. Stratification will ensure that clusters are properly represented in terms of this criterion.

Bằng cách tập trung các người phỏng vấn trong một phạm vi nhỏ của thành phố, tiết kiệm được rất nhiều thời gian và tiền bạc. Rất thường xuyên lấy mẫu phân lớp đi cùng với lấy mẫu cụm. Chẳng hạn, các khu vực có thể được phân loại theo các chỉ số phúc lợu kinh tế (ví dụ, cao, trung bình và thấp) như tỉ lệ phần trăm nhân khẩu trong hộ có công việc quản lý hay chuyên nghiệp. Phân lớp sẽ bảo đảm các cụm được đại diện thích đáng trên khía cạnh tiêu chí nầy.

SAMPLING PROBLEMS

Các vấn đề liên quan đến lấy mẫu

One of the most frequently asked questions in the context of sampling is: How large should a sample be? In reality, there can only be a few guidelines to answering this question, rather than a single definitive response.

First, the researcher almost always works within time and resource constraints, so that decisions about sample size must always recognise these boundaries. There is no point in working out an ideal sample size for a project if you have nowhere near the amount of resources required to bring it into effect. Second, the larger the sample the greater the accuracy. Contrary to expectations, the size of the sample relative to the size of the population (in other words n/N) is rarely relevant to the issue of a sample’s accuracy. This means that sampling error – differences between the sample and the population which are due to sampling – can be reduced by increasing sampling size. However, after a certain level, increases in accuracy tend to tail off as sample size increases, so that greater accuracy becomes economically unacceptable.

Một câu hỏi thường đặt ra khi lấy mẫu là: Mẫu nên lớn cỡ nào? Trong thực tế, chỉ có một vài hướng dẫn cho vấn đề nầy, thay vì một đáp án chắc chắn duy nhất.
Thứ nhất, nhà nghiên cứu hầu như luôn làm việc với thời gian và nguồn lực có hạn, do đó quyết định về kích thước mẫu (sample size) phải luôn thấy được các giới hạn nầy. Không thể nói chuyện kích thước mẫu lý tưởng nếu bạn không có số nguồn lực cần để làm điều đó. Thứ hai, mẫu càng lớn càng chính xác. Trái ngược với kỳ vọng, tỉ lệ kích thước của mẫu so với kích thước của dân số (nói cách khác n/N) hiếm khi liên quan đến vấn đề về tính chính xác của mẫu. Điều nầy có nghĩa là sai số lấy mẫu (sampling error) – có thể giảm đi bằng cách tăng kích thước mẫu. Tuy nhiên, sau một mức độ nhất định, sự tăng lên của đọ chính xác có khuynh hướng giảm dần khi kích thước mẫu tăng lên, do đó sự chính xác hơn trở nên không thể chấp nhận về mặt kinh tế.

Third, the problem of non-response should be borne in mind. Most sample surveys attract a certain amount of non-response. Thus, it is likely that only some of the 200 non-manual employees we sample will agree to participate in the research. If it is our aim to ensure as far as possible that 200 employees are interviewed and if we think that there may be a 20 per cent rate of non-response, it may be advisable to select 250 individuals, on the grounds that approximately 50 will be non-respondents.

Thứ ba, cần nghĩ đến vấn đề không trả lời (non-response). Phần lớn khảo sát lấy mẫu đều có một số lượng không trả lời nhất định. Như vậy, hầu như chỉ một vài người trong số 200 nhân viên làm việc không thủ công mà chúng ta lấy mẫu sẽ đồng ý tham gia vào cuộc nghiên cứu. Nếu mục tiêu của chúng ta là bảo đảm mức 200 nhân viên phỏng vấn và nếu chúng ta nghĩ rằng có chừng 20 phần trăm người không trả lời, nên chọn 250 người, trên cơ sở khoảng chừng 50 người sẽ không trả lời.

Finally, the researcher should bear in mind the kind of analysis he or she intends to undertake. For example, if the researcher intends to examine the relationship between department in the firm and attitudes to white-collar unions, a table in which department is cross-tabulated against attitude can be envisaged. If ‘attitude to white-collar unions’ comprises four answers and since ‘department’ comprises five categories, a table of twenty ‘cells’ would be engendered (see discussion of contingency tables and cross-tabulation in Chapter 8). In order for there to be an adequate number of cases in each cell a fairly large sample will be required. Consequently, considerations of sample size should be sensitive to the kinds of analysis that will subsequently be required.

Cuối cùng, nhà nghiên cứu nên tính đến loại phân tích anh ta hay cô ta dự định tiến hành. Chẳng hạn, nếu nhà nghiên cứu định khảo sát mối quan hệ giữa các phòng ban trong doanh nghiệp và thái độ đối với nghiệp đoàn lao động tri thức, có thể lập một bảng đối chiếu giữa các phòng ban và thái độ. Nếu ‘thái độ đối với nghiệp đoàn tri thức’ bao gồm bốn đáp án và do ‘phòng ban’ gồm năm loại, một bảng gồm hai mươi ‘ô’ sẽ được lập (xem thảo luận về các bảng tình huống (contingency và bảng đối chiếu ở Chương 8). Để có một số lượng thích ứng các trường hợp trong mỗi ô cần phải có một mẫu tương đối lớn. Do vậy, việc xem xét kích thước mẫu cần thận trọng tính đến các loại phân tích cần làm sau đó.

The issue of non-response draws attention to the fact that a well-crafted sample can be jeopardised by the failure of individuals to participate. The problem is that respondents and non-respondents may differ from each other in certain respects, so respondents may not be representative of the population. Sometimes, researchers try to discern whether respondents are disproportionately drawn from particular groups, such as whether men are clearly more inclined not to participate than women.

Vấn đề không phản hồi gây sự chú ý đến thực tế là một mẫu được thiết lập tốt có thể bị nguy hiểm do thất bại của các cá nhân tham gia. Vấn đề là những người trả lời (respondent) và những người không trả lời (non-respondents) có thể khác biệt nhau trên một số phương diện, vì thế những người trả lời có thể không là đại diện của dân số. Đôi khi, các nhà nghiên cứu cố gắng nhận biết những người trả lời được chọn từ các nhóm cụ thể có không tương xứng, như có hay không việc nam rõ ràng có khuynh hướng không tham gia hơn so với nữ.

However, such tests can only be conducted in relation to fairly superficial characteristics like gender; deeper differences, such as attitudinal ones, cannot readily be tested. In addition, some members of a sample may not be contactable, because they have moved or are on holiday. Moreover, even when a questionnaire is answered, there may still be questions which, by design or error, are not answered. Each of these three elements – non-response, inability to contact and missing information for certain variables – may be a source of bias, since we do not know how representative those who do respond to each variable are of the population.

Tuy nhiên, những kiểm định như vậy chỉ có thể được tiến hành liên quan đến các đặc điểm tương đối bề ngoài như giới tính; các khác biệt sâu sắc hơn, như các đặc điểm về thái độ, không thể dễ dang kiểm định. Ngoài ra, có thể không tiếp xúc được với một số thành viên của mẫu, do họ đã chuyển đi hay đang đi nghỉ. Hơn nữa, ngay cả khi một bảng câu hỏi được trả lời, có thể vẫn còn những câu hỏi, do thiết kế hay do sai sót, không được trả lời. Mỗi một yếu tố trong ba yếu tố nầy – không trả lời, không có thể tiếp xúc và thiếu thông tin cho một số biến nào đó – có thể là nguồn tạo ra sự sai lệch (bias), do chúng ta không biết những người không trả lời đối với mỗi biến đại diện thế nào cho dân số.

Finally, although social scientists are well aware of the advantages of probability sampling procedures, a great deal of research does not derive from probability samples. In a review of 126 articles in the field of organisation studies which were based on correlational research, Mitchell (1985) found that only twenty-one were based on probability samples. The rest used convenience samples, that is, samples which are either ‘chosen’ by the investigator or which choose themselves (for example, volunteers).

Cuối cùng, cho dù các nhà khoa học xã hội biết rõ những ưu điểm của qui trình lấy mẫu xác suất, rất nhiều nghiên cứu không đi từ các mẫu xác suất. Khi xem xét 126 bài báo trong lĩnh vực nghiên cứu tổ chức (organisation studies) dựa trên nghiên cứu tương quan (correlation research), Mitchell (1985) thấy chỉ 21 bài dựa trên các mẫu xác suất. Số còn lại sử dung các mẫu thuận tiện (convenience samples), có nghĩa là, các mẫu được người điều tra ‘chọn’ hay chúng tự chọn lấy (ví dụ, những người tình nguyện).

However, when it is borne in mind that response rates to sample surveys are often quite low and are declining (Goyder, 1988), the difference between research based on random samples and convenience samples in terms of their relative representativeness is not always as great as is sometimes implied. None the less, many of the statistical tests and procedures to be encountered later in this book assume that the data derive from a random sample. The point being made here is that this requirement is often not fulfilled, and that even when a random sample has been used, factors like non-response may adversely affect its random qualities.

Tuy vậy, với suy nghĩ là tỉ lệ trả lời đối với khảo sát mẫu thường rất thấp và ngày càng giảm (Goyder, 1988), sự khác biệt giữa nghiên cứu dựa trêm mẫu ngẫu nhiên và mẫu thuận tiện về khía cạnh tính đại diện tương đối của chúng không phải lúc nào cũng lớn như đôi khi nó được hiểu. Dẫu sao, nhiều kiểm định và qui trình thống kê gặp phải ở phần sau sách nầy giả định dữ liệu rút ra từ một mẫu ngẫu nhiên. Điểm lưu ý ở đây là yêu cầu nầy thường không được thoả mãn, và thậm chí khi sử dụng một mẫu ngẫu nhiên, các nhân tố như việc không phản hồi có thể ảnh hưởng bất lợi đến tính chất ngẫu nhiên củ nó.

STATISTICAL SIGNIFICANCE

Ý NGHĨA THỐNG KÊ

How do we know if a sample is typical or representative of the population from which it has been drawn? To find this out we need to be able to describe the nature of the sample and the population. This is done in terms of the distributions of their values. Thus, for example, if we wanted to find out whether the proportion of men to women in our sample was similar to that in some specified population, we would compare the two proportions. The main tests for tackling such problems are described in Chapters 7 and 9. It should be noted that the same principle lies behind all statistical tests, including those concerned with describing the relationship between two or more variables. Here, the basic idea underlying them will be outlined.

Làm thế nào để chúng ta biết được một mẫu là điển hình hay đại diện cho dân số mà từ đó nó được lấy ra? Để biết được điều nầy chúng ta cần mô tả bản chất của mẫu đó và dân số đó. Điều đó được thực hiện theo khía cạnh phân bố các giá trị của chúng (distribution of values). Chẳng hạn, nếu chúng ta muốn biết tỉ lệ nam so với nữ trong mẫu của chúng ta có giống như tỉ lệ đó trong dân số, chúng ta sẽ so sánh hai tỉ lệ nầy. Các kiểm định chính để giải quyết những vấn đề như thế được trình bày ở các Chương 7 và 9. Cần lưu ý là nguyên tắc nầy có mặt ở tắt cả các kiểm định thống kê, kể cả những kiểm định nhằm chỉ ra mối quan hệ giữa hai hay nhiều biến. Ở đây, ý tưởng cơ bản làm nêfn tảng cho chúng sẽ được phác hoạ.

To do this we shall take the simple case of wanting to discover whether a coin was unbiased in the sense that it lands heads and tails an equal number of times. The number of times we tossed the coin would constitute the sample while the population would be the outcomes we would theoretically expect if the coin were unbiased. If we flipped the coin just once, then the probability of it turning up heads is once every two throws, or 0.5. In other words, we would have to toss it at least twice to determine if both possibilities occur.

Để làm điều nầy, chúng ta lấy trường hợp đơn giản của việc muốn biết một đồng xu có không bị sai lệch theo nghĩa nó hiện mặt ngửa (head) và mặt sấp với số lần như nhau. Số lần chúng ta tung đồng xu sẽ tạo nên mẫu đó trong khi dân số là các kết quả chúng ta dự kiến về mặt lý thuyết nếu đồng xu không bị sai lệch. Nếu chúng ta tung đồng xu chỉ một lần, xác suất nó ngửa là một lần trong mỗi hai lần ném, hay 0.5. Nói cách khác, chúng ta ném nó ít nhất hai lần để xác định hai khả năng có thể xuất hiện.

If we were to do this, however, there would be four possible theoretical outcomes, as shown in Table 6.2: (1) a tail followed by a head; (2) a head followed by a tail; (3) two tails; and (4) two heads. What happens on each throw is independent of, or not affected by, the outcome of any other throw. If the coin were unbiased, then each of the four outcomes would be equally probable. In other words, the probability of obtaining either two tails or two heads (but not both possibilities) is one in four, or 0.25, while that of obtaining a head and a tail is two in four, or 0.5.

Tuy nhiên, nếu chúng ta làm điều đó, sẽ có bốn kết quả lý thuyết có thể xảy ra, như trình bày ở Bảng 6.2: (1) sấp rồi ngửa; (2) ngửa rồi sấp; (3) hai sấp; và (4) hai ngửa. Điều xảy ra trong mỗi lần ném độc lập với, hay không bị tác động của, kết quả của bất kỳ lần ném nào. Nếu đồng xu không sai lệch, mỗi một kết quả trong bốn kết quả có xác suất bằng nhau. Nói cách khác, xác suất của việc được hai sấp hay hai ngửa (không phải cả bốn khả năng) là một phần bốn, hay 0.25, trong khi được một sấp và một ngửa là hai phần bốn, hay 0.5.

The probability of obtaining a head and a tail (0.5) is greater than that of two tails (0.25) or two heads (0.25) but is the same as that for two tails and two heads combined (0.25 + 0.25). From this it should be clear that it is not possible to draw conclusions about a coin being unbiased from so few throws or such a small sample. This is because the frequency of improbable events is much greater with smaller samples. Consequently, it is much more difficult with such samples to determine whether they come from a certain population.

Xác suất được một ngửa và một sấp (0.5) lớn hơn xác suất của hai sấp (0.25) hay hai ngửa (0.25), nhưng bằng với xác suất của kết hợp hai sấp và hai ngửa (0.25 + 0.25). Từ đây rõ ràng là không thể rút ra kết luận về đồng xu không bị sai lệch từ số lần ném quá ít hay từ một mẫu quá nhỏ như thế. Điều nầy là do tần suất (frequency) của sự kiện có thể không xảy ra (ỉmpobable events) lớn hơn nhiều với các mẫu nhỏ hơn. Rốt cuộc, sẽ khó khăn nhiều hơn với những mẫu như thế để xác định chúng có đi từ một dân số đáng tin cậy hay không.

If we plot or draw the distribution of the probability of obtaining the same proportion of heads to tails as shown in Figure 6.1, then it will take the shape of an inverted ‘V’. This shape contains all the possible outcomes which add up to 1 (0.25 + 0.25 + 0.25 + 0.25 = 1).

Nếu chúng ta vẽ phân bố xác suất của tỉ lệ ngửa so với sấp như ở Hình 6.1, nó sẽ co dạng chữ ‘V’ ngược. Hình dạng nầy chứa tất cả các kết quả có thể xảy ra cộng lại bằng 1 (0.25 + 0.25 + 0.25 + 0.25 = 1).

Table 6.2 Four possible outcomes of tossing a coin twice

Bảng 6.2 Bốn kết quả có thể xảy ra của việc tung đồng xu hai lần

Possible outcomes

Probability (p)

1 Head Tail

0.25

= 0.5
2 Tail Head

0.25

3 Head Head

0.25

4 Tail Tail

0.25

Figure 6.1 The distribution of similar theoretical outcomes of tossing a coin twice
Hình 6.1 Phân b các kết qa lý thuyết ging nhau ca vic tung đng xu hai ln

Theoretically, the more often we throw the coin, the more similar the distribution of the possible outcomes will be to an inverted ‘U’ or normal distribution. Suppose, for example, we threw the same coin six times (or, what amounts to the same thing, six coins once). If we did this, there would be sixty-four possible outcomes. These are shown in Table 6.3. The total number of outcomes can be calculated by multiplying the number of possible outcomes on each occasion (2) by those of the other occasions (2 × 2 × 2 × 2 × 2 × 2 = 64). The probability of obtaining six heads or six tails in a row (but not both) would be 1 in 64 or about 0.016. Since there are six possible ways in which one head and five tails can be had, the probability of achieving this is 6 out of 64 or about 0.10 (that is, 0.016 × 6). The distribution of the probability of obtaining different sequences of the same number of tails and heads grouped together (for example, the six sequences of finding five tails and a head) is presented in Figure 6.2.

V mt lý thuyết, chúng ta ném đng xu càng nhiu, phân b kết qu có th xy ra s càng ging vi ch ‘U’ ngược hay phân b chun (normal distribution). Ví d, gi s chúng ta ném đng xu sáu ln (hay, sáu đng xu mt ln, cũng ging thế). Nếu chúng ta làm điu đó, s có sáu mươi bn kết qu có th xy ra. Các kết qu ny trình bày Bng 6.3. Tng s các kết qu có th tính được bng cách nhân s kết qu xy ra trong mi s kin (2) vi s kết qu ca các s kin khác (2 x 2 x 2 x 2 x 2 x 2 = 64). Xác sut ca xut hin sáu nga hay sáu sp trong mt hàng (không phi c hai) là 1 phn 64 hay khong 0.016. Vì có sáu cách trong đó có mt nga và năm sp có th xut hin, xác sut đt được điu ny là 6 phn 64 hay khong 0.10 (có nghĩa là, 0.016 x 6). Phân b xác sut ca vic xut hin các chui kết qu khác nhau ca cùng s sp và nga nhóm li vi nhau (ví d, sáu chui xut hin năm sp v mt nga) được trình bày Hình 6.2.

Figure 6.2 The distribution of similar theoretical outcomes of tossing a coin six times
Hình 6.2 Phân b kết qu lý thuyết ging nhau ca tung đng xu sáu ln

Table 6.3 Theoretical outcomes of tossing a coin six times and the probabilities of similar outcomes

Theoretical outcomes Probability Theoretical outcomes Probability
1 TTTTTT 0.016 64 HHHHHH 0.016
2 TTTTTH 0.094 63 HHHHHT 0.094
3 TTTTHT 62 HHHHTH
4 TTTHTT 61 HHHTHH
5 TTHTTT 60 HHTHHH
6 THTTTT 59 HTHHHH
7 HTTTTT 58 THHHHH
8 TTTTHH 0.234 57 HHHHTT 0.234
9 TTTHHT 56 HHHTTH
10 TTHHTT 55 HHTTHH
11 TTTHTH 54 HHHTHT
12 TTHTHT 53 HHTHTH
13 TTHTTH 52 HHTHHT
14 THTHTT 51 HTHTHH
15 THHTTT 50 HTTHHH
16 THTTTH 49 HTHHHT
17 THTTHT 48 HTHHTH
18 HTTHTT 47 THHTHH
19 HTTTHT 46 THHHTH
20 HTHTTT 45 THTHHH
21 HTTTTH 44 THHHHT
22 HHTTTT 43 TTHHHH
23 TTTHHH 42 HHHTTT 0.312
24 TTHHHT 41 HHTTTH
25 TTHHTH 40 HHTTHT
26 TTHTHH 39 HHTHTT
27 THTHTH 38 HTHTHT
28 THTHHT 37 HTHTTH
29 THHTTH 36 HTTHHT
30 THHTHT 35 HTTHTH
31 THTTHH 34 HTHHTT
32 THHHTT 33 HTTTHH

It should be clear from this discussion that we can never be 100 per cent certain that the coin is unbiased, because even if we threw it 1,000 times, there is a very small chance that it will turn up all heads or all tails on every one of those throws. So what we do is to set a criterion or cut-off point at or beyond which we assume the coin will be judged to be biased. This point is arbitrary and is referred to as the significance level. It is usually set at a probability or p level of 0.05, or five times out of a hundred. Since the coin can be biased in one of two ways, that is, in favour of either heads or tails, this 5 per cent is shared equally between these two possibilities.

Điều cần làm sáng tỏ từ thảo luận nầy là chúng ta không bao giờ chắc chắn 100% đồng xu là không sai lệch, vì ngay khi chúng ta tung nó 1000 lần, vẫn có một khả năng rất nhỏ là tất cả sẽ ngửa hay tất cả đều sấp cho các lần tung nầy. Vì thế điều chúng ta làm là đặt ra tiêu chí hay điểm giới hạn ở đó hay ngoài điểm đó chúng ta giả định rằng đồng xu bị đánh giá là sai lệch. Điểm nầy là tuỳ ý và đwocj xem là mức ý nghĩa (significance level). Nó thưòng được đặt ở xác suất hay mức p bằng 0.05. Vì đồng xu có thể bị sai lệch theo một trong hai cách, nghĩa là, ngả về phía ngửa hay phía sấp, 5 phần trăm nầy được chia như nhau giữa hai khả năng nầy.

This means, in effect, that the probability of the coin being biased towards heads will be 0.025 and that the probability of its bias towards tails will also be 0.025. In other words, if it turns up heads or tails six times in a row, then the probability of both these outcomes occurring would be about 0.032 (that is, 0.016 + 0.016), which is below the probability of 0.05. If either of these two events were to happen we would accept that the coin was biased. If, however, it landed tails once and heads five times, or heads once and tails five times, there are six ways in which either of these two outcomes could happen. Consequently, the probability of either one happening is 6 out of 64, or about 0.10. The probability of both outcomes occurring is about 0.2 (that is, 0.10 + 0.10). In this case, we would have to accept that the coin was unbiased, since this probability level is above the criterion of 0.05.

Về bản chất, điều nầy có nghĩa là xác suất đồng xu bị sai lệch về phía ngửa sẽ là 0.025 và xác suất sai lệch của nó về phía sấp cũng sẽ là 0.025. Nói cách khác, nếu nó xuất hiện ngửa hay sấp sáu lần trong một dãy, thì xác suất xuất hiện cả hai kết quả nầy là 0.032 (tức là, 0.016 + 0.016), thấp hơn xác suất 0.05. Nếu một trong hai sự kiện xuất hiện, chúng ta chấp nhận là đồng xu bị lệch. Tuy nhiên, nếu nó xuất hiện sấp một lần và ngửa năm lần, hay ngửa một lần và sấp năm lần, có sáu cách một trong hai kết quả nầy có thể xuất hiện. Do đó, xác suất của một kết quả đó xuất hiện là 6 phần 64, hay khoảng 0.10. Xác suất của cả hai kết quả xuất hiện là khoảng 0.2 (tức là, 0.10 + 0.10). Trong trường hợp nầy, chúng ta chấp nhận đồng xu là không bị lệch, vì mức xác suất nầy cao hơn tiêu chí 0.05.

Because we can never be 100 per cent certain that the coin is either biased or unbiased, we can make one of two kinds of error. The first kind is to decide that the coin is biased when it is not. This is known as a Type I error and is sometimes referred to as α (alpha). For example, as we have seen, an unbiased coin may land heads six times in a row. The second kind of error is to judge the coin to be unbiased when it is biased. This is called a Type II error and is represented by β (beta). It is possible, for instance, for a biased coin to come up tails once and heads five times. We can reduce the possibility of making a Type I error by accepting a lower level of significance, say 0.01 instead of 0.05. But doing this increases the probability of making a Type II error. In other words, the probability of a Type I error is inversely related to that of a Type II one. The more likely we are to make a Type I error, the less likely we are to commit a Type II error.

Do chúng ta không bao giờ chắc chắn là đồng xu lệch hay không lệch, chúng ta có thể phậm một trong hai loại sai lầm. Loại thứ nhất là xác định đồng xu là bị lệch khi nó không lệch. Điều nầy được gọi là sai lầm Loại I (Type I error) và đôi khi được gọi là α (alpha). Chẳng hạn, như chúng ta thấy, một đồng xu không bị lệch có thể xuất hiện ngửa sáu lần trong một dãy. Loại sai lầm thứ hai là cho rằng đồng xu không bị lệch khi nó bị lệch. Đây gọi là sai lầm loại II (Type II error) và được gọi là β (beta). Có thể có, chẳng hạn, một đồng xu bị lệch xuất hiện sấp môt lần và ngửa năm lần. Chúng ta giảm khả năng phạm sai lầm Loại I bằng cách chấp nhận một mức ý nghĩa thấp hơn, 0.01 thay vì 0.05. Nhưng làm điều nầy sẽ làm tăng xác suất phạm sai lầm Loại II. Nói cách khác, xác suất sai lầm Loại I quan hệ nghịch đảo với xác suất sai lầm Loại II. Càng dễ phạm sai lầm Loại I bao nhiêu, càng khó phạm sai lầm Loại II bấy nhiêu.

At this stage, it is useful to discuss briefly three kinds of probability distribution. The first is known as a binomial distribution and is based on the idea that if only either of two outcomes can occur on any one occasion (for example, heads or tails if a coin is thrown), then we can work out the theoretical distribution of the different combinations of outcomes which could occur if we knew the number of occasions that had taken place. One characteristic of this distribution is that it consists of a limited or finite number of events. If, however, we threw an infinite number of coins an infinite number of times, then we would have a distribution which would consist of an infinite possibility of events.

Ở giai đoạn nầy, thảo luận vắn tắt ba loại phân bố xác suất rất có ích. Thứ nhất là phân bố nhị thức (binominal distribution) và dựa trên ý tưởng là nếu chỉ một trong hai kết quả có thể xuất hiện vào bất kỳ một sự kiện nào (ví dụ, ngửa hay sấp nếu một đông xu được tung), thì chúng ta có thể xây dựng được phân bố xác suất lý thuyết của các tổ hợp kết quả khác nhau có thể xuất hiện nếu chúng ta biết được số lượng sự kiện xảy ra. Một đặc điểm của phân bố nầy là nó bao gồm một số lượng sự kiện giới hạn (limited) hay có hạn (finite). Tuy nhiên, nếu chúng ta ném một số lượng vô hạn (infinite) đồng xu với số lần vô hạn, thì chúng ta có một phân bố bao gồm một vô hạn sự kiện có thể xảy ra.

This distribution is known variously as a DeMoivre’s, Gaussian, standard normal or z curve distribution. If random samples of these probabilities are taken and plotted, then the shape of those distributions will depend on the size of the samples. Smaller samples will produce flatter distributions with thicker tails than the normal distribution, while larger ones will be very similar to it. These distributions are known as t distributions. What this means is that when we want to know the likelihood that a particular series of events could have occurred by chance, we need to take into account the size of the sample on which those events are based.

Phân bố nầy được gọi nhiều tên khác nhau như phân bố DeMoivre, phân bố Gaussian, phân bố chuẩn (standard normal) hay phân bố đường cong z. Nếu mẫu ngẫu nhiên của các xác suất nầy được lấy và vẽ ra, hình dạng của các phân bố nầy sẽ phụ thuộc vào kích thước của các mẫu đó. Các mẫu nhỏ hơn sẽ tạo ra phân bố phẳng (flat) hơn. với đuôi (tails) dày hơn phân bố chuẩn, trong khi các mẫu lớn hơn sẽ rất giống với nó. Các phân bố nầy được gọi là phân bố t (t distribution). Điều nầy có nghĩa là khi chúng ta muốn biết khả năng một chuỗi sự kiện có thể xuất hiện ngẫu nhiên, chúng ta cần xét đến kích thước của mẫu mà các sụ kiện nầy dựa vào đó.

So far, in order to convey the idea that certain events may occur just by chance, we have used the example of tossing a coin. Although this may seem a bit remote from the kinds of data we collect in the social sciences, we use this underlying principle to determine issues such as whether a sample is representative of its population and whether two or more samples or treatments differ from each other. Suppose we draw a small sample of six people and want to determine if the proportion of males to females in it is similar to that of the population in which the number of men and women are equal.

Từ trước đến giờ, để truyền đạt ý tưởng các sự kiện nhất định có thể xuất hiện ngẫu nhiên, chúng ta đã sử dụng ví dụ tung đồng xu. Cho dù điều nầy dường như hơi khác xa loại dữ liệu chúng ta thu thập trong khoa học xã hội, chúng ta sử dụng nguyên tắc cơ bản nầy để quyết định các vấn đề như mẫu có đại diện cho dân số của nó hay không và co hai hay nhiều mẫu hơn hoặc các xử lý khác nhau. Giả sử chúng ta rút ra một mẫu nhỏ gồm sáu người và muốn quyết định tỉ lệ nam so với nữ trong nó giống như tỉ lệ đó trong dân số trong đó số nam và nữ bằng nhau.

Each person can only be male or female. Since there are six people, there are sixty-four possible outcomes (that is, 2×2×2×2×2×2). These, of course, are the same as those displayed in Table 6.3 except that we now substitute males for tails and females for heads. The joint probability of all six people being either male or female would be about 0.03 (that is, 0.016 + 0.016), so that if this were the result we would reject the notion that the sample was representative of the population. However, if one was male and the other five female, or there was one female and five males, then the probability of this occurring by chance would be about 0.2 (that is, 0.096 + 0.096).

Mỗi người có thể là nam hay nữ. Vì có sáu người, có sáu mươi bốn kết quả có thể xảy ra (tức là, 2x2x2x2x2x2). Dĩ nhiên, những khả năng giống với khả năng đã trình bày ở Bnảg 6.3 chỉ khác là chúng ta thay thế nam cho sấp và nữ cho ngửa. Xác suất hợp (joint probability) của tất cả sáu người hoặc là nam hay hoặc là nữ là 0.03 (tức là, 0.016 + 0.016), như thế nếu đây là kết quả thì chúng ta bác bỏ ý kiến mẫu đó là đại diện của dân số. Tuy nhiên, nếu có một nam và năm nữ, hay có một nữ và năm nam, xác suất kết quả nầy xuất hiện ngẫu nhiên là 0.2 (tức là, 0.096 + 0.096).

This would mean that at the 0.05 significance level we would accept either of these two outcomes or samples as being typical of the population because the probability of obtaining these outcomes is greater than the 0.05 level. This shows that sample values can diverge quite widely from those of their populations and still be drawn from them, although it should be emphasised that this outcome would be less frequent the larger the sample. Statistical tests which compare a sample with a population are known as one-sample tests and can be found in the next chapter.

Điều nầy có nghĩa là ở mức ý nghĩa 0.05 chúng ta chấp nhận hoặc hai kết quả nầy hoặc mẫu là đại diện cho dân số vì xác suất có được các kết quả nầy lớn hơn mức 0.05. Điều nầy chứng tỏ các giá trị mẫu có thể rất khác với giá trị của dân số của chúng và vẫn được lấy ra từ chúng, cho dù nên nhấn mạnh kết quả nầy ít thường xuyên hơn khi mẫu lớn hơn. Kiểm định thống kê so sánh một mẫu với một dân số được gọi là kiểm định một mẫu (one-sample tests) và có thể tìm thấy ở chương kế tiếp.

The same principle underlies tests which have been developed to find out if two or more samples or treatments come from the same population or different ones, although this is a little more difficult to grasp. For example, we may be interested in finding out whether women are more perceptive than men, or whether alcohol impairs performance. In the first case, the two samples are women and men while in the second they are alcohol and no alcohol.

Nguyên tắc đó là nền tảng cho các kiểm định được thiết lập để phát hiện hai hay nhiều mẫu hay cách xử lý từ cùng một dân số hay dân số khác, cho dù điều nầy hơi khó hiểu hơn một chút. Chẳng hạn, chúng ta có thể quan tâm biết được nữ có sâu sắc hơnấnm không, hay rượu có làm hỏng hiệu quả công việc. Trong trường hợp thứ nhất, hai mẫu là nữ và nam trong khi ở trường hợp thứ hai họ là có uống rượu và không uống rượu.

Once again, in order to explain the idea that underlies these tests, it may be useful to think about it initially in terms of throwing a coin, except that this time we throw two coins. The two coins represent the two samples. We want to know whether the two coins differ in their tendency to be unbiased. If the two coins were unbiased and if we were to throw them six times each, then we should expect the two sets of theoretical outcomes obtained to be the same as that in Table 6.3. In other words, the two distributions should overlap each other exactly.

Một lần nữa, để giải thích ý tưởng làm nền tảng cho các kiểm định nầy, sẽ có tích nếu chúng ta nghĩ về nó bắt đầu với việc tung đồng xu, chỉ khác là lần nầy chúng ta tung hai đồng xu. Hai đồng xu tượng trưng cho hai mẫu. Chúng ta muốn biết hai đồng xu nầy có khác nhau về khuynh hướng không bị lệch hay không. Nếu hai đồng xu không bị lệch và nếu chúng ta ném chúng sáu lần, chúng ta dự kiến hai tập hợp kết quả lý thuyết thu được giống như ở Bảng 6.3. Nói cách khác, hai phân bố trùng lắp hoàn toàn.

Now if we threw the two coins six times each, it is unlikely that the empirical outcomes would be precisely the same, even if the coins were unbiased. In fact, we can work out the theoretical probability of the two distributions being different in the same way as we did earlier for the coin turning up heads or tails. It may be easier in the first instance if we begin by comparing the outcomes of tossing two coins just once. If we do this, there are four possible outcomes: (1) two tails; (2) two heads; (3) one tail and one head; and (4) one head and one tail. If we look at these outcomes in terms of whether they are the same or different, then two of them are the same (two tails and two heads) while two of them are different (one tail and one head, and vice versa). In other words, the probability of finding a difference is two out of four, or 0.5, which is the same as that for discovering no difference. We stand an equal chance of finding no difference as we do of a difference if we throw two unbiased coins once.

Nếu chúng ta ném hai đồng xu sáu lần, các kết quả thực nghiệm chính xác như nhau, nagy cả khi các đồng xu không lệch. Thực tế là, chúng ta có thể giải quyết xác suất lý thuyết của hai phân bố nầy khác nhau theo như cách chúng ta làm ở phần trước đối với đồng xu ngửa hay sấp. Trong ví dụ thứ nhất, dễ dàng hơn khi so sánh kết quả của việc tung hai đồng xu chỉ một lần. Nếu chúng ta làm điều đó, có bốn kết quả có thể xảy ra: (1) hai sấp; (2) hai ngửa; (3) một sấp và một ngửa; và (4) một ngửa và một sấp. Nếu chúng ta nhín vào các kết quả nầy trên phương diện chúng giống nhau hay khác nhau thì có hai kết quả chúng giống nhau (hai sấp và hai ngửa) trong khi hai kết quả chúng khác nhau (một sấp và một ngửa, và ngược lại). Nói cách khác, xác suất thấy sự khác biệt là hai trên bốn, hay 0.5, giống như xác suất thấy sự không khác biệt. Chúng ta có một cơ hội bằng nhau thấy được sự không khác biệt như khi chúng ta thấy sự khác biệt nếu chúng ta ném hai đồng xu không lệch một lần.

Thinking solely in terms of the outcomes of the two coins being the same or different, if we threw the two coins twice, then there would be four possible outcomes: (1) two the same; (2) two different; (3) the first the same and the second different; and (4) the first different and the second the same. In other words, the probability of obtaining the same outcome when two unbiased coins are thrown twice is 0.25. The probability of the outcomes being mixed is greater with the value being 0.5. The probability of the outcomes being the same on all six throws would be about 0.016 (0.5 × 0.5 × 0.5 × 0.5 × 0.5 × 0.5 = 0.016). Hence, if the two coins were unbiased, we would not expect them to give the same outcome on each occasion they were tossed. The distribution of the outcomes of the two coins represents, in effect, what we would expect to happen if the differences between two samples or two treatments were due to chance.

Chỉ xét trên phương diện các kết quả của hai đồng xu giống hay khác nhau, nếu chúng ta ném hai đồng xu hai lần, có bốn kết quả có thể xảy ra: (1) hai đồng giống nhau; (2) hai đồng khác nhau; (3) đồng thứ nhất giống nhau đồng thứ hai khác nhau, và (4) đồng thứ nhất khác và đồng thứ hai giống. Nói cách khác, xác suất có được kết quả giống nhau khi hai đồng xu không lệch được ném hai lần là 0.25. Xác suất các kết quả hỗn hợp lớn hơn giá trị đó là 0.5. Xác suất các kết quả giống như thế trong tất cả sáu lần ném là 0.016 (0.5×0.5×0.5×0.5×0.5×0.5 = 0.016). Do đó, nếu hai đồng xu không lệch, chúng ta không kỳ vọng chúng cho cùng kết quả cho mỗi lần ném. Phân bố các kết quả của hai đồng xu, thực tế, tuợng trưng cho điều chúng ta dự kiến xảy ra nếu sự khác biệt giữ hai mẫu hay hai lần xử lý do ngẫu nhiên.

Applying this idea to the kind of question that may be asked in the social sciences, we may wish to find out if women and men differ in their perceptiveness. There are three possible answers to this question: (1) women may be more perceptive than men; (2) they may be no different from them; or (3) they may be less perceptive than them. In other words, we can have three different expectations or hypotheses about what the answer might be. Not expecting any difference is known as the null hypothesis. Anticipating a difference but not being able to predict what it is likely to be is called a non-directional hypothesis.

Ứng dụng ý tưởng nầy đối với loại câu hỏi có thể được nêu lên trong khoa học xã hội, chúng ta có thể mong muốn biết được nư và nam có khác nhau về sự sâu sắc của họ không. Có ba đáp án có thể có đối với câu hỏi nầy: (1) nữ có thể sâu sắc hơn nam; (2) họ có thể không khác nhau; hay (3) họ có thể kém sâu sắc nam. Nói cách khác, chúng ta có ba kỳ vọng hay giả thuyết khác nhau về đáp án là gì. Không kỳ vọng bất cứ sự khác biệt nào gọi là giả thuyết không (null hypothesis). Dự kiến môth sự khác biệt nhưng không thể đoán trước nó là gì được gọi là giả thuyết không phương hướng (non-directional hypothesis).

However, it is unlikely that we would ask this sort of question if we did not expect a difference of a particular nature, since there are an infinite number of such questions which can be posed. In carrying out research we are often concerned with showing that a particular relationship either holds or does not hold between two or more variables. In other words, we are examining the direction as well as the existence of a relationship. In this case, we may be testing the idea that women are more perceptive than men. This would be an example of a directional hypothesis. As we shall see, specifying the direction of the hypothesis means that we can adopt a slightly higher and more lenient level of significance.

Since there are three possible outcomes (that is, a probability of 0.33 for any one outcome) for each paired comparison, if we tested this hypothesis on a small sample of five men and five women, then the probability of all five women being more perceptive than men just by chance would be about 0.004 (that is, 0.33×0.33×0.33×0.33×0.33). If we obtained this result, and if we adopted the usual 0.05 or 5 per cent as the significance level at or below which this finding is unlikely to be due to chance, then we would accept the hypothesis since 0.004 is Page 108

Figure 6.3 One-tailed and two-tailed 0.05 levels of significance

less than 0.05. In other words, we would state that women were significantly more perceptive than men below the 5 per cent level – see Figure 6.3(a). As we shall see, SPSS usually provides the exact level of significance for each test. It has been customary in the social sciences to provide the significance level only for results which fall at or below the 0.05 level and to do so for certain cut-off points below that such as 0.01, 0.001, and 0.0001. However, with the advent of computer programs such as SPSS which give exact significance levels, it could be argued that this tradition does not maximise the information that could be supplied without any obvious disadvantages.

If, however, we found that only four of the women were more perceptive than the men, then the probability of this happening by chance would be about 0.04, since there are ten ways or sequences in which this result could occur (0.004 × 10 = 0.04). This finding is still significant. However, if we had adopted a non-directional hypothesis and had simply expected a difference between men and women without specifying its direction, then this result would not be significant at the 0.05 level since this 0.05 would have to be shared between both tails of the distribution of possible outcomes as in Figure 6.3 (b). In other words, it would become 0.025 at either end of the distribution. This result would require a probability level of 0.025 or less to be significant when stated as a non-directional Table 6.4 Type I and Type II errors

Reality

No difference

A difference

Interpretation of reality

Accept no difference

Correct

Type II error

β

Accept a difference

Type I error

α

Correct

hypothesis. As it is, the probability of either four women being more perceptive than men or four men being more perceptive than women is the sum of these two probabilities, namely 0.08, which is above the 0.05 level. The important point to note is that non-directional hypotheses require two-tailed significance levels while directional hypotheses only need one-tailed ones. If we find a difference between two samples or treatments we did not expect, then to test the significance of this result we need to use a two-tailed test.

It may be worth reiterating at this stage that a finding of four out of the five women being more perceptive than the five men may still be obtained by chance even at the 0.04 one-tailed level. In other words, this means that there remains a 4 in 100 possibility that this result could be due to chance. In accepting this level of significance for rejecting the null hypothesis that there is no difference between men and women, we may be committing a Type I error, namely thinking that there is a difference between them when in fact there is no such difference. In other words, a Type I error is rejecting the null hypothesis when it is true, as shown in Table 6.4. We may reduce the probability of making this kind of error by lowering the significance level from 0.05 to 0.01, but this increases the probability of committing a Type II error, which is accepting that there is no difference when there is one. A Type II error is accepting the null hypothesis when it is false. Setting the significance level at 0.01 means that the finding that four out of the five women are more perceptive than the men is assuming that this result is due to chance when it may be indicating a real difference.

The probability of correctly assuming that there is a difference when there actually is one is known as the power of a test. A powerful test is one that is more likely to indicate a significant difference when such a difference exists. Statistical power is inversely related to the probability of making a Type II error and is calculated by subtracting beta from one (that is, 1 −β).

Finally, it is important to realise that the level of significance has nothing to do with the size or importance of a difference. It is simply concerned with the probability of that difference arising by chance. In other words, a difference between two samples or two treatments which is significant at the 0.05 level is not necessarily bigger than one which is significant at the 0.0001 level. The latter difference is only less probable than the former one.
Inferring from samples to populations

The section so far has raised the prospect of being able to generalise from a sample to a population. We can never know for sure whether a characteristic we find in a sample applies to the population from which the sample was randomly selected. As the discussion so far suggests, what we can do is to estimate the degree of confidence we can have in the characteristic we find. If we find, as we did in Chapter 5, that the mean income in the Job Survey is £15,638.24, how confident can we be that this is the mean income for the population of workers in the firm as a whole?

A crucial consideration in determining the degree of confidence that we can have in a mean based on a sample of the population is the standard error of the mean, which is the standard deviation of the sample means. This notion is based on the following considerations. The sample that we select is one of only an incredibly large number of random samples that could have been selected. Some of these samples would find a mean that is the same as the population mean, some will be very close to it (either above or below) and some will be further away from it (again, either above or below the population mean). If we have a population that is normally distributed, the distribution of all possible sample means will also be normally distributed. This suggests that most sample means will be the same as or close to the population mean, but that some will deviate from it by quite a large amount. The standard error of the mean expresses the degree of dispersion of these means. We know from the discussion in Chapter 5 concerning the attributes of a normal distribution that 95.44 per cent of all cases lie within two standard deviations of the population mean. More precisely, we know that 95 per cent of cases lie within a range that is plus or minus 1.96 standard deviations of the mean. Since the distribution of sample means is normally distributed around the population mean, we can deduce that 95 per cent of all samples lie within a range that is plus or minus 1.96 standard errors from the population mean. Needless to say, the corollary of this is that 5 per cent of samples lie outside that range. This is likely to occur when there is a high level of sampling error.

This reasoning becomes important in research because we can infer the upper and lower levels of range within which the population mean falls. This range is known as the confidence interval. We can infer that there is a 95 per cent chance that the population mean will lie between the sample mean plus or minus 1.96 standard errors of the mean. In fact, we can see from Table 5.6 that not only does SPSS provide the standard error of the mean (242.04), it also gives us the 95 per cent confidence intervals. We can be 95 per cent confident that the population mean will lie between £15,155.13 and £16,121.34. It is always possible that the mean that you find in your research is based on a highly unrepresentative sample and is therefore one of the 5 per cent of sample means falling outside the range of plus or minus 1.96 standard errors of the population mean. Essentially, we are taking a gamble that our sample mean is one of the 95 per cent that lies within the range.

Figure 6.4 Confidence intervals

The standard error of the mean is calculated by dividing the standard deviation (which in this case is 1995.89) by the square root of the sample size (68). As this calculation implies, the more dispersed the sample is around the mean (that is, the larger the standard deviation), the larger the sample error of the mean will be. This in turn means that the confidence interval range will be larger.

A further consideration is that there may be research issues where you need to be more than 95 per cent confident that the population mean lies within the confidence interval. For the bulk of social issues, the 95 per cent level of confidence is adequate, but there may be occasions when you need to be more confident. If, for example, you wanted to be 99 per cent confident that the population mean fell within the confidence interval, a wider range of upper and lower values would need to be specified. This is calculated as the sample mean plus or minus 2.58 standard errors of the mean. When you use Explore to provide confidence interval information, it uses the 95 per cent confidence level as a default selection. To change the default confidence level, while in the Explore dialog box (Box 5.8):

➔Statistics… [opens Explore: Statistics subdialog box] change Confidence Interval for Mean: from 95 to 99 % ➔Continue [closes Explore: Statistics subdialog box]

➔OK

The confidence interval is then £14996.54 to £16279.93. It means that you can be 99 per cent confident that the population mean lies within that range. Figure 6.4 attempts to capture these ideas.

EXERCISES
BÀI TẬP

1. What is the difference between a random sample and a representative sample?
Khác biệt giữa một mẫu ngẫu nhiên và một mẫu đại diện là gì?

2. Why might a stratified sample be superior to a simple random sample?
Tại sao một mẫu phân lớp ưu việt hơn một mẫu ngẫu nhiên giản đơn?

3. In what context might multistage cluster sampling be particularly useful?
Trong hoàn cảnh nào lấy mẫu cụm nhiều bước đặc biệt có ích?

4. If a sample of grocery shops were selected randomly from the Yellow Pages directory for your town, would you necessarily have a representative sample?
Nếu một mẫu các cửa hàng thực phẩm được chọn một cách ngẫu nhiên từ Trang Vàng Niên giám Điện thoại trong thị trấn của bạn, bạn có cần có một mẫu đại diện?

5. Flip a coin four times. What is the probability of finding the particular sequence of outcomes you found?
Tung một đồng xu bốn lượt. Xác suất có được một chuỗi đặc biệt các kết quả ban thấy là gì?

6. If the coin were unbiased, would you obtain two heads and two tails if you threw it four times?
Nếu đồng xu đó không lệch, bạn có đạt được hai ngửa hai sấp nếu bạn ném bốn lần?

7. What is the probability of obtaining any sequence of two heads and two tails?
Xác suất có được bất kỳ trình tự hai ngửa và hai sấp là gì?

8. You have developed a test of general knowledge which consists of a hundred statements, half of which are false and half of which are true. Each person is given one point for a correct answer. How many points is someone who has no general knowledge most likely to achieve on this test?
Bạn thiết lập một kiểm định khiến thức chung bao gồm một trăm câu phất biểu, một nửa là sai và một nửa là đúng. Mỗi người được cho một điểm cho một câu trả lời đúng. Một người không có kiến thức chung hầu như sẽ đạt được bao nhiêu điểm trong thử nghiệm nầy?

9. Fifty people are tested to see if they can tell margarine from butter. Half of them are given butter and the other half are given margarine. They have to say which of these two products they were given (that is, there were no ‘don’t knows’). If people cannot discriminate between them, how many people on average are likely to guess correctly?

Năm mươi người được thử nghiệm xem họ có phân biệt được giữa bơ thực vật (margarine) và bơ động vật (butter). Một nửa được nhận bơ động vật, và bửa kia bơ thực vật. Họ phải phát biểu họ được nhận loại nào trong hai loại sản phẩm trên (tức là, không có chuyện ‘không biết’). Nếu người ta không thể phân biệt được chúng với nhau, tính trung bình có bao nhiêu người hầu như đoán chính xác?

10. If we wanted to see if women were more talkative than men, what would the null hypothesis be?
Nếu chúng ta muốn biết phụ nữ có nhiều chuyện hơn nam giới hay không, giả định không (null hypothesis) sẽ là gì?

11. What would the non-directional hypothesis be?

12. What is the 95 per cent confidence interval for age in the Job Survey?
Khoảng tin cậy 95% về tuổi trong Khảo Sát Việc Làm là gì?

 

Sưu tầm từ: Nguyen Đinh Huynh

With a Little Help From My Architect Friends

huynhhayenlong:

too great. How do you write fast and good?

Originally posted on The Accidental Cootchie Mama:

Excuses are superfluous when invited to drive the pinched length of the Columbia River Gorge. Verdant green drips from every vertical surface. Slender fissures in rock yield to tumbling waterfalls. The roadway cantilevers over a rabid, fizzing cauldron of river, droplets racing themselves to a union with the Pacific. Vertigo evaporates with eye contact, drinking images resplendent with wet, with ooze, with confounding drama where it joins the desert and is sucked dry.

The face of Nature’s preening wasn’t what mattered to me when my architect friend Alice asked me to drive from Portland, through the Gorge, to the Maryhill Museum of Art. My notions were taken with History, the ghostly echoes of bedraggled explorers, Lewis and Clark and their whoring, whooping Corps of Discovery. I strained my ears to hear them, shuffled my feet to (maybe) stand where they once did. With a weaving, distracted…

View original 398 more words

12 ĐƯỜNG KINH CHÍNH – THAM KHẢO

 

Thủ thái ấm phế kinh. Đường kinh giống như đài phát (truyền thanh,truyền hình),huyệt giống như máy thu

1)Phế  kinh                                       7)Tiểu trường kinh

2) Đại trường kinh                         8)Bàng quang kinh

3)Vị kinh                                           9)Thận kinh

4)Tỳ kinh                                          10)Tâm bào kinh

5)Tâm kinh                                      11) đởm kinh

6)Tam tiêu kinh                               12)can kinh

Ví dụ:phế vượng (tốt I)từ 3-5 giờ sáng,nên uống thuốc, đi tiêu

từ 5-7 giờ sáng phế hư

từ 16g -17g phế suy:khí thoát,lao phổi,ung thư phổi chết giờ này

Chiều vận hành của đk: âm thăng,dương giáng. Đi cầu ra máu,hay phân khô,bón tả hoả huyệt đk phế,bấm(tả) huyệt thái uyên (bấm đẩy ra phía 5 đầu ngón tay)

Kinh                                         Mộ  huyệt                                bối du huyệt

Phế                                       trung phủ                              phế du phách hộ

đại trường                           thiên xu                                  đại trường du

Vị                                         trung quản                            vị du,vị thương

Tỳ                                         chương môn                           tỳ du, ý xá

Tâm                                     cự khuyết                               tâm du,thần đường         

 

 

HỆ THỐNG KINH CHÍNH gồm 12 đk xếp theo thứ tự tuần hoàn kinh khí

1)Thủ thái âm phế    

2)Thủ dương minh đại trường                                  (1) (2) đi k èm

3)Túc dương minh vị

4)Túc thái âm tỳ                                                         (3)(4) đi k èm

5)Thủ thiếu âm tâm kinh

6)Thủ thiếu dương tiểu trường kinh                       (5)(6) đi k èm

7)Túc thái dương bàng quang

8)Túc thiếu âm thận                                                  (7)(8) đi kèm

9)Thủ quyết âm tâm bào

10)Thủ thái dương tam tiêu                                     (9)(10) đi k èm

11)Túc thiếu dương đởm

12)Túc quyết âm can                                                (10)(11) đi k èm

HUYỆT CHẨN ĐOÁN (MỘ)còn gọi là mạc,huyệt báo cho biết,báo nguy,mỗi đk đều có mộ huyệt

BỐI DU HUYỆT(huy ệt ở ph ía sau lưng)rót tinh kh í vào,bi ểu hiện ở 3 yếu tố

-Nếu ấn vào đau tức tạng phủ tương ứng bên trong đang bị đau

-Thay đổi màu sắc

-Thay đổi cấu trúc:ví dụ trên mặt xuất hiện nốt ruồi có kèm sợi lông -dấu hiệu ung thư

CÁC HUYỆT CHẨN ĐOÁN KHÁC

1)Huyệt thượng thiên trụ:chỗ lõm ngay chân tóc (sau gáy)sát dây cơ là huyệt thiên trụ,kéo vào phía trên 1 lóng tay là huyệt thượng thiên trụ.Khi bị HAC,mạch máu ở 2 bên thai dương nổi rõ,hay có cảm giác giật giật,và động mạch cảnh ở bên hông cổ nổi gân xanh,dấu hiệu của não bị xung huyết ấn thượng thiên trụ

2)Huyệt thứ liêu:phụ nữ ấn đau huyệt này có thai 3 tháng (trên LX 2 xương cụt là vùng  bát liêu (gồm:thượng liêu,thứ liêu,trung liêu,hạ liêu)hơ cứu huyệt thứ liêu bên trai BN,khi hơ cứu hơi nong sẽ lan xuống nhượng chân,sau đó đi ngược vào trong tử cung.Huyệt chẩn đoán có tác dụng:báo hiệu và đanh giá kết quả

3)Huyệt trung phủ: cuối xương đòn (từ cục xương nhô ra trước,kéo ra phía vai,chỗ lõm là huyệt trung phủ

4)Huyệt thiên xu:từ rốn đo ra 2 bên (bên trái mạnh hơn)2 thốn.Viêm đại trường mạn,hay tiêu chảy,táo bón hơ cứu huyệt thiên xu(tác dụng kép),nếu bấm tiêu chảy (thuận chiều kđh bổ),nếu táo bón (ngược chiều kđh tả)

-Kích ứng ruột: ăn xong đi cầu liền,hoặc uống nước cũng bị đi cầu,do cơ năng ruột có vấn đề.Hơ cứu huyệt thiên xu và túc tam lý

-“Bơm hồn sán khí”=ruột chạy,có cảm giác lúc u chỗ này,1 lúc cục u di chuyển nơi khác.Hơ cứu huyệt thiên xu,khí hải,quan nguyên

5)Huyệt trung quản(đk vị,bao tử,dạ dày): điểm giữa từ chấn thuỷ đến rốn (hoặc từ rốn đo lên 3 thốn) trị loét dạ dày, ăn xong đau liền.

6)Huyệt lương môn:từ trung quản đo ra 2 ngang ngón tay (1 thốn 5),nếu đau bên phải tức loét tá tràng,bị theo mùa (có chu kỳ)

7)Tỳ(hệ tiêu hoá)lá lách,mộ huyệt  chương môn (co cánh tay lại,thúc cùi chỏ vào cạnh sườn,nếu đau bên trái,lá lách trái có thể sưng to gọi là hội chứng Banti.Nếu gan (phải)lách (trái)sưng xét nghiệm Banti (+)do sốt rét ác tinh,hay ngộ độc.Nếu sờ bên phải gan không sưng,sờ bên trái thấy sưng= lách sưng to do mất bạch cầu,suy giãm hệ miễn dịch,dấu hiệu suy tuỷ-thiếu máu không tái tạo,trường hợp này chữa suy tuỷ là chinh.Dùng bài “hữu quy hoan”bổ thận chữa suy tuỷ.Thiếu máu không tái tạo dùng bài “lục vị + bát vị”biến thể:cao quy bản (rùa sống dưới nước bổ thận âm),cao ban long (lộc nhung:phần dương của huyết):do âm gíang nên không sinh được huyết,do dương giáng nên không có khí  huyết để tái tạo,bài thuốc trên làm cho âm dương phục hồi,huyết hữu hình (từ chất động vật)chỉ có nhục huyết mới đi vào được huyết hữu hình (lưu ý: đương quy,thục địa chỉ là huyết vô hình không vào được huyết hữu hình).Hơ thêm huyệt cao hoang,túc tam lý để tăng hồng cầu.Bài thuốc  trên giúp bổ thận(thận tàng tinh,tinh sinh tuỷ)

*Huyệt túc tam lý:túc (chôn)tam(3)lý (dặm,làng,chỗ ở): đại trường,vị,tiểu trường

*lưu ý huyệt cao hoang:cao (phế)hoang (tâm)khi hơ cứu lâu ngày hơi nóng sẽ nung đốt phế, đại trường(quan hệ với nhau),vị tâm có quan hệ tiểu trường,khi hơ cao hoang phải hơ thêm huyệt túc tam lý để quân hoà,nếu chỉ hơ cao hoang lâu ngay sẽ sinh bực bội

8)Huyệt cự khuyết:chỗ lõm ngang ngực

9)Huyệt quan nguyên:từ rốn đo xuống 4 ngang ngón tay,chẩn đoan đk tiểu trường (tiểu ra máu,nóng vùng ngực,vùng bụng dưới,không kèm đau lưng,chỉ bồn chồn bức rức,nóng trong ngực,kèm lưỡi nứt đỏ)do nhiệt ở tâm rót vào tiểu trường nên tiểu ra máu, n quan nguyên thấy đau-do đk tiểu trường không phải do thận,tả huyệt dương cốc

10) Đường kinh bàng quan:từ quan nguyên xuống 1 thốn huyệt trung cực (từ rốn xuống xương mu chia 2)

11)Huyệt kinh môn: từ chóp xương cung (bên hông trước) kéo ngang ra sau khoảng 10cm huyệt kinh môn. Đau dữ dội,cơn đau quặn thận(bão thận) đau ở vung hông trái lan ra sau,dấu hiệu sạn thận,BN nằm ngữa ấn huyệt dũng tuyền

12)Huyệt thạch môn:từ rốn đo xuống 2 thốn(dưới khí hải 1 tí)huyệt này có thể gây tuyệt thai,nếu hơ cứu làm cháy da,hay chỗ đó có thẹo “thạch môn phụ nữ ưng tu kỵ,chung than bất tuyệt dung cần nhớ ghi”

13)huyệt nhật nguyệt:khi thở đau bên hông sườn,từ đầu vú là xương sườn số 4,kéo thẳng xuống khe xương 6+7 là huyệt nhật nguyệt,xuống  them 1 thốn là huyệt trấp cân.Thực hành:BN nằm ngữa để 3 ngón tay vào khung sườn(bên cạnh rốn) của người bệnh,bảo BN hít sâu rồi thở ra đè mạnh vào,nêu đau là viêm túi mật

*Giun chui ống mật đau hạ sườn phải(ống mật),kèm cơn đau từng cơn,khi chổng mông lên hết đau.Bấm huyệt đởm nang(chỗ lõm phía trên túc tam lý)là huyệt lien quan đến túi mật,sau đó sổ giun

14)Huyệt kỳ môn:từ đầu vú là xương sườn số 4 kéo thẳng xuống xương 7 + 8 ấn đau (bên trái)

15)Huyệt lan vĩ:đau dữ dội từ bụng trái đến bụng phải,từ túc tam lý xuống 1-1,5 thốn ấn đau-ruột dư bị sưng. Đau vùng hạ sườn phải (vùng bụng dưới bên phải),sốt kèm ói mửa,bí đại tiện,khi ấn vùng rốn + háng thấy chân co lại “súc cước trừng ung”châm huyệt lan vĩ,hoặc 1 viên thạch anh nhọn trắng dí mạnh ở huyệt kỳ môn (bên trái) + 1 viên đá thạch anh trắng nhọn ở lan vĩ(bên phải)20’Từ khi phát bệnh đến 9 giờ sau ruột dư mới vỡ.Dùng them thuốc “đại tràng mẫu đơn bì thang”còn gọi là “thuốc xổ”quét sạch nhiệt ở trường vị “địch nhiệt trường vị”

NGŨ DU HUYỆT

Ngũ du huyệt diễn tả sự chuyển vận của kinh khí,bắt đầu từ các đầu ngón tay,ngón chân chuyển qua các lắc léo (khớp)kết thúc ở khuỷ tay khuỷ chân.Luôn khởi (bắt đầu) ở huyệt tĩnh –vinh-du-kinh-hợp(hành của huyệt theo tương sinh ngũ hành)

1)Tĩnh huyệt:là nơi tà khí bên ngoài xâm nhập,khi xem người ta có bệnh hay không,nên kiểm tra huyệt tĩnh bằng 2 cách:

a)Akabane’s test: dùng nhiệt để kiểm tra,khi đường kinh nào bị bệnh thì mức chịu nhiệt kế dùng cây nhang (loại nhỏ)bẻ 2 rồi chập 2 đoạn nhang lại,hơ các tĩnh huyệt ở các đầu ngón tay,nơi nào nóng tức đường kinh đó bị bệnh

b)Hoặc dùng lắc kiểm tra các tĩnh huyệt

2)Huyệt hợp(huyệt cuối cùng)là cửa ngõ,nếu bệnh lan đến huyệt hợp không chụi chữa,sau đó sẽ lan vào tạng phủ bên trong,huyệt hợp cũng là cửa,là nơi đẩy tà khí ra ngoài.Ví dụ đk phế bệnh,dùng  thạch anh vàng để ở xích trạch  (tay trái)là nơi tà khí đi ra đi vào

3)Du huyệt:có các đk âm (khởi mộc), đk dương (khởi kim)

HUYỆT NGUYÊN

Là huyệt tập trung khí huyệt nhiều nhất của mỗi đk,dùng để kiểm tra kinh khí của mỗi đk(máy đo nguyên huyệt, đo điện trở,quả lắc…)V=RI huyệt là nơi điện trở xuống thấp,lượng  ampe tăng lên,vol tăng lên

TAY

1)3  đk âm khôg có nguyên huyệt,lấy du huyệt làm nguyên huyệt:

-Đường kinh phế:huyệt thái dương là du huyệt của đk phế, lấy huyệt này làm nguyên huyệt đk phế

-Đường kinh tâm bào,du huyệt đại lăng,lấy làm nguyên huyệt đk tâm bào

-Đường kinh tâm,du huyệt là thần môn lấy làm nguyên huyệt đk tâm

VD: đk phế bệnh kiểm tra huyệt trung phủ (mộ),phế du thấy đau tức đk phế bệnh.Huyệt thừa khuyết đau đk tâm bệnh

2) 3 đường kinh dương (mặt ngoài bàn tay)

-Đường kinh đại trường có nguyên huyệt là hợp cốc,mỗi sang day nếu thấy hợp cốc đau,tức tối hôm qua ăn uống có vấn đề,day hợp cốc đến khi hết đau

-Đường kinh tam tiêu nguyên huyệt dương trì(từ khe ngón 3 và 4 kéo xuống cổ tay)giúp ấm cơ thể

-Đường kinh tiểu trường:nguyên huyệt uyển cốt

CHÂN có 3 đk âm và 3 đk dương

-Đường kinh tỳ du huyệt thái bạch cũng là nguyên huyệt (chỗ lõm I giữa thịt trắng và đỏ

-Đường kinh can du huyệt  thái xung đồng thời cũng là nguyên huyệt

-Đường kinh thận,du huyệt thái khê cũng là nguyên huyệt.Thận do tiên thiên,là tinh hoa của các tạng phủ.Huyệt thái khê dung để đánh giá sống chết khi BN bệnh nặng,nếu thái khê không đập tức tiên lượng chết,kết hợp bấm thêm mạch xung dương,nếu còn đập tức còn hấp thu được thuốc

-ĐK đởm:huyệt khâu khư(chỗ lõm trước mắt cá ngoài hướng về phía ngón chân út)là nguyên huyệt đk đởm,chủ về gân cơ,khi bị trật gân bóp mạnh vào khâu khư day ngược chiều kđh sẽ hết

-ĐK tiểu trường:gập hay ngữa cổ tay chỗ lõm cuối,huyệt uyển cốt (nguyên huyệt đk tiểu trường)

HUYỆT LẠC (lạc = nối,liên lạc)huyệt lạc của đk này nối qua nguyên huyệt đk tương ứng,pp sử dụng nguyên lạc (TQ gọi là chủ khách).Ví dụ:

1)2 đk phế và đại trường liên đới nhau,khí của đk này bịnh,sẽ dẫn dến đk kia bệnh theo.

1 người đi ngoài đường về nhà bị cảm nóng,hôm sau đi cầu táo bón,hoặc chảy máu cam,do khách (môi trường bên ngoài) đưa bệnh đến,phải đẩy khách đi(tả tà khí trong đk bị bệnh)lưu ý lúc tà khí thoát ra,phế sẽ rỗng #khách đi rồi chủ phải lo đậy cửa lại.Tức tả lạc ở phế,bổ nguyên huyệt ở đk đại trường

2)Đau ½ đầu (migraine)dễ nổi nóng, điều chỉnh đk đởm giải quyết đau ½ đầu,châm  lạc huyệt đk đởm huyệt quang minh,châm bổ nguyên huyệt đk can huyệt thái xung,để lấy khí bổ qua đởm

3)Bắt mạch ở bàn tay trái BN thốn quan xích(quan thuộc can mộc,mạch huyền căng như sợi dây đàn).Từ mắt cá chân đo lên 5 thốn là huyệt quang minh bấm mạnh (tả),sau đó day nhẹ trung xung,kiểm tra lại mạch

a)Hoặc dùng đá thạch anh xanh ở lạc, đá đen ở can

b)Hoặc đá trắng  ở lạc quang minh, đá xanh ở trung xung

*Lưu ý:nếu chưa bao giờ bị,mới bị cấp tính,dùng (b) đá trắng ở lạc huyệt quang minh để ức chế ngay, đá xanh ở trung xung để bổ can.Nếu bị lâu ngày dung(a) đá xanh ở lạc,vì mộc khí đang suy kém đưa đá xanh vào để tăng mộc khí để đẩy tà khí ra,bị lâu đá đen ở can thuỷ sinh mộc.Nếu để đán xanh ở can hôm sau xem mạch lại,nếu đá đen ở can có thể 1 lúc sau kiểm tra mạch được

 

HUYỆT

1)Huyệt liệt khuyết (nếu ở tay phải BN,dùng tay trái của ta áp ngược ngón cái + trỏ đối chiều và dịch ngón trỏ vào trong ,hoặc từ thái uyên lên 1 ngón tay

2)Huyệt thông lý:từ lằn chỉ cổ tay huyệt thần môn đo lên 2 ngang ngón tay(lạc huyệt của đk tâm)bị tai biến MMN sau đó nói ngọng,nữ có thai 9 tháng tự nhiên không nói được “tâm khai khiếu ở lưỡi”hoặc bị  mộng du.Dùng kim mai hoa (5 đinh gọi là mai hoa châm,nếu 7 đinh gọi là thất đinh châm mạnh hơn mai hoa)gõ mai hoa ở thông lý(tả) đến khi rướm máu tức đk tâm được khai thong,sẽ khai khiếu lên lưỡi,sau đó day thần  môn(nguyên huyệt đk tâm).Có thể dung 3 hạt đậu đỏ dán ở thần môn hôm sau tháo ra(3 là lão dương,kết nối giữa số 1 dương và 2 âm,giúp điều chỉnh đk trở về quân bình

3) Đk tâm bào:huyệt nội quan (giữa lằn cổ tay đo lên 2 thốn,giữa 2 khe 3+4 ).

Huyệt nội quan là 1 trong lục tổng huyệt trị vùng ngực (thong sướng hung trung)trị bức rức,phiền muộn,giúp lồng ngực khoan khoái dễ chịu,trị tim mạch,là huyệt có tác dụng kép nếu nhịp tim nhanh hay chậm bấm nội quan,ngoài ra nội quan điều chỉnh thần kinh giao cảm-nôn mữa,rối loạn tiền đình gây nôn mữa (có thể đeo vòng từ trường có pin ở nội quan)giúp không say xe,có thể cắt 1 lát gừng tươi dán nội quan (màu vàng của gừng đi vào tỳ)

-Sau giải phẩu,sau chấn thương sọ não BN thường bị nôn ói,vì vậy trước và sau phẩu thuật nên châm nội quan để tránh tình trạng ói

HUYỆT NỘI QUAN

Trị an thần mất ngủ,nội quan + thần môn = tâm tàng thần,kếp hợp thêm an miên,thất miên để hỗ trợ thêm.Có 4 huyệt an miên:an miên 1 và 2 ở sau tai(điểm giữa từ phong trì và ế phong gọi là (a),điểm giữa từ (a)ra phong trì là an miên 1,điểm giữa từ an miên 1 nối  với ế phong là an miên 2).Phía sau lưng từ D8 ra 1 ngang ngón tay là an miên 3,từ mắt cá chân lên 3 ngón tay là an miên 4(tức từ tam âm giao xuống 1 thốn).An miên 4 còn gọi là can viêm điểm (trị viêm gan,nếu viêm gan mạn bấm tả 4 an miên,sau đó thử máu xem lại SGOP,SGPT men gan,chức năng gan,khi viêm gan người nóng nảy,nhìn thức ăn không muốn ăn,đau hạ sườn phải,đêm không ngủ được (do gan không phải do tim).Nếu bị gan bấm an miên 3,4.Bị thần kinh bấm an miên 1,2

1)BN nói liên hồi,bấm an miên bên phải,nếu mắt lờ đờ bấm an miên trái để cho mắt cay lên.Nếu mất ngủ bấm thất nguyên (chân ngữa phía gót,lấy 1/3 phía chân sau lấy điểm giữa)

2)Suy nhược thần kinh do:suy thần kinh,suy hô hấp thở mệt mỗi khi leo cầu thang,hoặc bế baby,tim lúc nhanh lúc chậm,chán ăn,rối loạn sinh dục,tiêu tiện không tự chủ,bấm huyệt nội quan xuyên qua ngoại quan,hoặc dùng tay ấn  2 huyệt cùng 1 lúc

HUYỆT NGOẠI QUAN (lạc huyệt đk tam tiêu:thượng tiêu,trung tiêu,hạ tiêu)

1)BN khai đau đầu dữ dội (thượng tiêu),bụng co thắt (trung tiêu)đau bụng tức chằn muốn đi tiêu tiểu nhưng không được(hạ tiêu)dùng tay ấn ngoại quan,hoặc dùng đá thạch anh đen.

*Sách kinh điển:châm hợp cốc + ngoại quan sẽ giải biểu khi bị cảm sốt cao

HUYỆT LÃI CÂU (từ thái khê đo lên 5 thốn)trị gan sưng,xơ gan,viêm gan siêu vi B,C,những bệnh gan,ấn lãi câu (chỗ đau)ấn mạnh tả hoặc dùng đá thạch anh trắng

HUYỆT KHÍCH (khe)chẩn đoán các bệnh cấp tính,theo dõi

1)Khổng tối:khích huyệt đk phế:từ nếp gấp cổ tay ngữa đo xuống 5 thốn,để vào khe,phía mặt trong cánh tay)

BN ho dữ dội ấn thấy đau ở khổng tối tức tà khí mới xâm nhập,bị trĩ ra máu,đi cầu ra máu,bấm mạnh khổng tối sẽ hết ra máu

Trường hợp phân lúc đầu bình thường gần cuối thì có máu-do trĩ nội,do phế không tàng được phách,điều chỉnh khổng tối

2)Thiên lịch(khích và lạc của đk đại trường:từ dương khê đo lên 3 thốn,bấm hướng ra ngoài)đi cầu không được bấm thiên lịch

3)Lương khâu (khích huyệt đk vị:từ đỉnh xương bánh chè đo lên phía háng 3 ngang ngón tay,sau đó chếch ra ngoài 1 ngón có khe xương)ấn đau,trị viêm dạ dày cấp tính,đau do thần kinh

4)Địa cơ(khích huyệt đk tỳ,từ âm lăng tuyền xuống 3 thốn)uống rượu đau dữ dội bấm địa cơ và lương khâu

5)Âm khích(khích huyệt đk tâm:từ thần môn xuống 1 ngang ngón tay)chữa mồ hôi

*Mồ hôi tự ra do áp lực học hành,công việc…bấm âm khích,đại lăng,thủ tâm(giữa lòng bàn tay),tâm điểm,hợp cốc,khí hải,quan nguyên,phục lưu,tam âm giao-điều chỉnh đk tâm

*Đi xa về ngủ li bì mê mệt:dùng thạch anh hồng dán thủ tâm

-Tâm đỉnh(lằn chỉ 1 của ngón tay giữa)điều chỉnh đk tâm,còn được gọi là tâm huyết,có khả năng bơm máu(day ngược lên tim).BN sáng ngủ dậy tay co quắp,tê day tâm điểm sẽ đưa máu lên.Vùng thái dương nổi cọng gân xanh,cảm giác căng,trong đầu có cái gì giật giật,day tâm điểm.Hợp cốc bấm nhẹ sẽ ra mồ hôi,bấm mạnh không ra mồ hôi.Phục lưu(kinh đk thận)bổ kim đk thận,mục đích bổ sung lượng nước bị mất.Tam âm giao nơi hội tụ 3 đk

Hơ cứu từ 1 tuần đến 1 tháng hết mồ hôi

6)Dưỡng lão(khích đk tiểu trường)nuôi dưỡng mắt

-Cổ tay úp,từ mắt cá có chỗ lõm huyệt dưỡng lão,tiểu tiện ra máu do nhiệt,lỡ miệng,hơi thở nóng tả dưỡng lão

-lão nhãn điểm(lằn thứ 3 của ngón tay út ngữa,đốt cuối)

-Đại cốt không:bị màng mây che mất,có vật gì bay vào mắt bấm hàng ngày

-Minh nhãn(ngón cái co lại bên hông của lằn 1 phía trong),phượng nhãn (bên ngoài)

7)Kích môn (khích huyệt đk tâm bào:từ mắt cá chân ngoài xuống,giữa huyệt thân mạch,ra ngoài hướng về phía trước 1 thốn huyệt kinh môn

8)Thuỷ tuyền (khích của đk thận:từ thái khê đo xuống 1 lóng tay chỗ lõm)bong gân cổ chân,mắt cá sưng

9)Khích môn(khích huyệt đk tam bào:từ lằn chỉ cổ tay đo lên 5 thốn giữa khe)đag bình thườg tự nhiên tim đập nhanh,đau thắt ngực,tức ngực,thiếu máu cơ tim,đêm khôg ngủ được,bóp mạnh khích môn sáng,tối trước khi ngủ,hoặc dùng 1 hạt đậu đỏ dán khích môn mỗi tối + day

10)Hội tông(khích huyệt đk tam tiêu:bàn tay úp đo 3 thốn,hướng ra ngoài về phía ngón út)Tiểu đường đông y gọi là bệnh tiêu khát,đặc trưng:uống nước nhiều(phế,do nhiệt thượng tiêu) ăn nhiều (trùng tiêu tỳ),tiểu nhiều(hạ tiêu thận,dán thạch anh đen(dập hoả)qua đêm,hoặc đeo vòng đen

11)Ngoại khâu(khích huyệt đk đởm:đỉnh mắc cá ngoài đo lên 7 thốn)BN ôm ngực đau,dấu hiệu cò súng(sign de fusil) bấm mạnh (tả)ngoại khâu,hoặc dùng đá thạch anh trắng đầu nhọn đâm mạnh vào ngoại khâu sẽ thấy dễ chịu,sau đó nên đến bệnh viện

12)Trung đô(khích huyệt đk can)đối xứng ngoại khâu,bấm ngoại khâu + trung đô cùng lúc day lên xuống 1’nên làm bên chân phải

GAI GÓT CHÂN

*Sáng ngủ dậy viêm gót chân,đi 1 lúc hết đau,bấm các huyệt xung quanh gót chân vài lần sẽ hết

*Đau gân gót:càng đi càng đau-gai gót chân.Cách chữa:dùng 2 muỗng cafee xuyên khung (tán bột) + rượu trắng (đun sôi)hoà sền sệt bôi vào chỗ gai,băng lại để qua đêm,sáng mai gỡ ra,làm liên tục 15 ngày (từ 2-3 ngày hết đau)xuyên khung bổ khí trong huyết

GAI CỘT SỐNG,ĐAU LƯNG:hột đu đủ (trái hườm không chín quá)cho vào rỗ chà bong màng chỉ còn hột gai,giã nát đắp vào chỗ có gai 30’(chỉ đắp tối đa 30’)làm liên tục 1 tháng (khi đắp 15 ngày gai mềm,dùng quả banh lông để ở vị trí gai,BN đứng dựa vào tường cọ trái banh lên xuống,đắp tiếp 15 ngày gai sẽ rụng.Trong hạt đu đủ có chất papain.Trường hợp nếu không có hột đu đu thì sử dụng thịt đu đủ,nhưng tác dụng ít hơn dùng hạt

BỎNG VÙNG LƯNG (ăn hóc,ăn vướng tóc ở trong cổ)

Bấm mạnh huyệt gian sử

THẬP CHI ĐẠO

Tay trái BN: ngón 3 tim) ngón 4+5 (thần kinh)

Tay phải BN:ngón 3 (tim,huyết),ngón 4+5 thận can(thần kinh)

-Ngũ bội (có 5 ngũ bội):ngũ bội 1 (tay úp đốt cuối của ngón cái)ngũ bội 2 (đốt cuối của ngón trỏ),ngũ bội 3 (đốt cuối của ngón giữa),ngũ bội 4 (đốt cuối của ngón áp út),ngũ bội 5 (đốt cuối của ngón út)

-Nhân tam(có 3 nhân tam):nhân tam 1 (tay úp,chỗ lõm giữa cổ tay),nhân tam 2 (từ nhân tam 1 lên 1 ngang ngón tay),nhân tam 3 (từ nhân tam 1 lên 2 ngang ngón tay)

-Chí thế (có 2 huyệt):tay úp giữa khe ngón 4,5.Tay úp giữa khe ngón 1,2

*Đối với thần kinh làm huyết (máu)trước để đi vào TK

ỔN ĐỊNH THẦN KINH (làm tay phải BN trước)

1)Tay phải BN:khoá H.Chí thế 4,5 bằng ngón tay cái của ta(tay trái),ngón 1 (ngón cái tay phải của ta)bấm nhẹ vào ngũ bội 3,sau đó bấm mạnh vào ngũ bội 2,mỗi ngón bấm 5-7 lần

2)Tay trái BN:khoá cùng 1 lúc H.chí thế 1,2 + nhân tam 1 bằng cách dùng mô ngón tay cái (tay trái của ta)đè (khoá)vào vùng H.chí thế 1,2 còn ngón trỏ của ta đè (khoá)lên vùng nhân tam 1(ngang lằn giữa cổ tay)dùng ngón cái tay phải của ta bấm ngũ bội 4 và 5,từ 5-7 lần với 1 lượng kích thích như nhau

Thực hành:

a)làm tay phải BN trước:tay phải BN úp,ngón cái tay trái của ta(để nằm)vào khe 4,5 là H.chí thế (khoá)// dùng ngón cái tay phải của ta bấm nhẹ vào ngũ bội 3 (cuối đốt 3của ngón tay giữa của BN)chủ huyết số chẵn day nhẹ 4 hay 6(day ngang).Trường hợp nếu mặt BN xanh,môi tím  day 8,hay 10 lần.Sau đó day (bấm)mạnh ngũ bội 2(ngón trỏ)dương số lẽ 7 lần (tay để ngang khi bấm)

b)Sau đó làm bên tay trái BN:dùng mô ngón cái bên trái của ta khoá H.chí thế (khe 1,2)+ dùng ngón trỏ của ta khoá nhân tam 1(chỗ lõm ở giữa cổ tay).Tay phải của ta bấm vào ngũ bội 4(áp út)7 cái (bấm ngang),sau đó bấm ngũ bội 5 (ngón út )7 lần

 

ỔN ĐINH TIM MẠCH

1)Làm tay phải BN trước:khoá hổ khẩu (2 bên cổ tay)và nhân tam 3 cùng 1 lúc,bấm ngũ bội 1  từ 5-7 lần

2)Sau đó làm tay trái:dùng mô ngón tay cái khoá vào H.chí thế 1,2 đồng thời ngón cái khoá vào nhân tam 3,bấm ngón cái.Day ngũ bội 3,4,5

Thực hành:

a)Làm tay phải BN:tay phải BN úp dùng tay trái của ta khoá hổ khẩu(2 lõm ở 2 bên cổ tay,tránh gân) + khoá nhân tam 3,ngón cái tay phải của ta bấm ngũ bội 1(ngón cái của BN) (nếu HAC bấm hướng ra ngoài,nếu HA thấp hướng vào tim)

2)Sau đó làm tay trái BN úp:dùng mô ngón cái khoá chí thế 1,2 + dùng ngón trỏ khoá nhân tam 1,bấm ngũ bội 3 (ngón giữa)số chẵn 6 lần,ngũ bội 4 (ngón áp út)lẽ 7 mạnh,ngũ bội 5 (ngón út)lẽ bấm mạnh.Sau đó bấm vài lần:ngón giữa nhẹ,áp úp mạnh,ngón út mạnh

ĐAU ĐẦU DO CĂNG THẲNG

1)BN đau 2 bên đầu do đk đởm ,đau sau gáy do đk bàng quang hay đởm

-Ấn vào H.Thiên trụ thấy đau-đk bàng quang rối loạn (tiểu tức,bụng đau)

-Ấn phong trì đau (lõm ở chân tóc)đắng miệng,hông đau-đk đởm

-Vùng trán đau-do tỳ vị(dạ dày)

-Đầu đau dữ dội do đk can(căng thẳng TK,phẩn nộ,mạch huyền,căng như dây đàn)

-Đau trên cổ,phía phong trì-đk đởm.Phong trì là huyệt hội của đk đởm và dương duy mạch,bị cảm đau vùng gáy làm sốt-bấm (châm)phong trì sẽ hết

*Dương duy mạch (là nơi quản lý các đk dương ở ngoài cơ thể).Mạch âm duy (là nơi quản lý các đk dương trong cơ thể)

-Đau đầu ,cảm giác như bị băng quấn chặt do can khí uất kết(cảm giác đầu,chân mày bị xiết chặt)

-Đau đầu buồn nôn kèm rối loạn thị giác,khứu giác,do can vượng khắc tỳ(tiêu hoá)chữa can khí uất kết là chính,mạch huyền (mạch của can)

*Tay trái BN úp,(lòng bàn tay của ta để dưới tay BN dùng ngón trỏ khoá phía dưới,khoá ngón trỏ BN,tay cái của ta day H đỉnh đầu(nếp gấp bên hông đốt thứ 2 của ngón giữa,bên phía gần ngón trỏ)sau đó chuyển qua day huyệt nữa đầu(bên hông đốt 2 ngón áp út,bên phía ngón út).Nếu cấp tính bóp mạnh day.Do can khí uất kết bấm thêm thái xung(nguyên huyệt đk can)giúp bình can(tiềm dương)để không cho bốc hoả lên

2)Đau ½ đầu,đau kinh niên tái đi tái lại,cảm giác đập từng nhịp nghe “bực,bực…”nhất là về đêm,nhức đau theo nhịp mạch không ngủ được.Tâm chủ huyết mạch tàng thần,đau đầu có yếu tố mạch máu,h.tâm điểm là điểm phản chiếu tạng tâm,đồng thời phản chiếu tâm huyết.

Thực hành:tay phải BN ngữa,ngón trỏ của ta để dưới ngón trỏ BN khoá lại,bấm tâm điểm (đốt 1 của ngón giữa)vuốt ra ngoài,giúp máu căng sẽ rút ra.

*Mất ngủ triền miên(bị lâu ngày)vuốt hướng lên tim,giúp bơm máu lên đầu,sau đó đại lăng tuyền (nguyên huyệt đk tâm bào)

Quyết âm:thủ quyết âm (tâm bào),túc quyết âm (can).Nếu trường hợp cụt chân không thể bấm ở chân được(không chữa ở can,thì chữa ở tâm bào đều giống nhau),chữa ở tay huyệt đại lăng (thay thế thái xung ở chân)

MÁU Ứ TRỆ TRÊN ĐẦU

1)Ấn vào đầu có dấu hiệu đau buốt(máu tụ do té)phải bơm máu lên đầu để phá tan máu ứ,có thể kết hợp 2 cách:

a)Bấm huyệt              theo thập chi đạo(bị ứ máu bên nào làm bên đó):khoá hổ khẩu ở tay phải BN,từ đỉnh xương đòn đến đầu nếp nách(phía trước) chia 2 là H.thái lâu,tác dụng kép:bơm máu lên hay xuống.

-Dẫn máu lên:chỗ lõm phía trước xương đòn gánh H.đoạt thế,day hướng lên đầu bơm máu lên đầu.Nếu làm bên trái BN huyệt đoạt thế gọi là H.khư nai

-Sau đó dẫn máu xuống:tay trái BN,tay trái của ta khoá hổ khẩu(khoá 2 bên lõm cổ tay,chừa gân)từ bờ vai ngoài xuống khuỷ tay chia 4,bóp mạnh từng phần từ trên vai xuống(phần 1,phần 2,phần 3,phần 4)làm vài lần,mục đích đẩy máu xuống ngón trỏ (qua đường ruột già)

*Đau đầu do tụ máu phải bơm máu lên trước,hạ máu xuống sau

b)Dùng dược thảo:16g thất(tan máu ứ,sinh máu mới)+ xuyên khung 4-8g (dẫn từ dưới lên,dẫn tam thất đi lên)

*Lưu ý:a dao có tác dụng như tam thất nhưng vị nặng không lên được,chỉ dùng điều trị bế kinh tới tháng không ra được,tác dụng dẫn xuống dưới

*Xuyên khung người HAC không dùng được,thay tang ký sinh (1 loại chùm gởi nằm trên cây dâu tằm)12-20g thông thường dùng 16g

2)BN ứ máu ở đầu + ứ 2 bên thái dương (chọn thuốc vào can đởm):16g tam thất + cúc hoa 8-10g (thanh độc minh mục)nấu nước  uống trong ngày,hôm sau hết

ĐAU ĐỈNH ĐẦU(kinh niên kết hợp bấm và uống)

Do tướng hoả vượng bốc lên.Dùng tam tài thang :20g thiên môn đông,10g thục địa,8g nhân sâm(nhân sâm vị can đại bổ nguyên khí,điều vinh dưỡng vệ)có thể thay nhân sâm =đinh lăng

NGỌC BÌNH PHONG TÁN

40g hoàng kỳ,20g bạch truật (sao)8g phòng phong(dẫn ra biểu).Phòng phong uống vào thoát ra ngoài,nhờ hoàng kỳ níu kéo lại để phòng phòng chỉ thoát ra tới da không ra hơn được nữa,bạch truật níu hoàng kỳ vào,bít hết chân lông-hệ miễn dịch tăng sức đề kháng

 

 

ĐAU TRƯỚC TRÁN (vị)

Dương minh đầu thống,dùng cát căn (bột sắn dây:giải cơ)thăng ma làm thuốc dẫn.Vùng trán ít thịt,khi cơ căng sẽ rất đau cát căn giúp giải cơ,thăng ma dẫn khí đi thẳng lên

*Liệt cơ,teo cơ,baby yếu,bệnh lâu ngày:yến sào,thăng ma.

Yến chưng,thăng ma nấu nước uống

 

ĐAU 2 BÊN ĐẦU

Thiêu dương đầu thống,dùng sài hồ,hoàng cầm làm thuốc dẫn,sài hồ sơ can giải uất,hương phụ tác dụng lý khí(nếu hương phụ tẩm giấm (vào can),nếu tẩm nước tiểu hay muốn (vào thận)nếu tẩm rượu vào toàn thân).Hoàng cầm giải tà khí ở thiếu dương,bán biểu bán lý

ĐAU PHÍA SAU NÃO

Thái dương đầu thống.Dùng khương hoạt,ma hoàng làm thuốc dẫn,khương hoạt trừ phong thấp,ma hoàng ra được mồ hôi

XUẤT HUYẾT NÃO

Do HAC làm giảm sự đàn hồi của mạch máu,dẫn đến cứng,khi chịu sự tác động nào đó gây rách,vỡ mạch máu

PHÒNG NGỪA TBMMN

Có 1 trong 3 dấu hiệu,hoặc có cả 3:

-Ấn đau H.Thượng thiên trụ (nghiệm pháp Manaka)

-Ngón tay rung(đặc biệt ngón trỏ:vì ngón trỏ xuất phát dương minh đại trương có nhiều khí nhiều huyết,nếu quá nhiều khí huyết sẽ rung

-Móng tay giữa và áp út có nốt màu đỏ hay đen,bấm mạnh thương dương,quan xung,thiếu thương hàng ngày cho đến khi móng không còn vết đỏ hay đen nữa

*CHA mỗi người có 1 ngưỡng chịu đưng khác nhau,khi CHA cần phải hạ,bấm ế phong (làm hạ hay tăng huyết áp:nếu ấn mạnh day ngược chiều kđh giãm huyết áp,nếu chóng mặt HA thấp ấn nhẹ theo chiều kđh tăng huyết áp)

1)Dùng thập chi đạo:tay phải BN úp,tay trái của ta khoá hổ khẩu(chỗ lõm ở 2 bên cổ tay,tránh dây gân)+ nhân tam 3,ngón cái tay phải của ta kéo ngón cái BN hướng ra (giúp hạ HA)nếu BN HA thấp kéo ngón cái BN hướng về tim

*Nam HAC lâu ngày sẽ liệt dương,làm tay phải chưa xuống,làm thêm tay trái

-Ngón chân cái:khoá khô khốc + gót chân,kéo chân ngón cái ra ngoài 10 cái (nếu HA cao),nếu người HA thấp kéo vào trong

-Tai BN gấp 2,phía sau tai có rãnh dọc,vuốt xuống 10 cái (không khoá)

2)Kết hợp dùng thuốc:hoa hoè 8g (chất rutin,chắc thành mạch)10 hạt bưởi tươi (chất pectin),8 hạt bạch quả (chất ginkco,cải thiện tuần hoàn não).

Hạt bưởi + nước sôi ngâm 30’ có chất sền sệt trắng.Chia 2 phần

Hoa hoè,bạch quả nấu nước uống,chia 2,lấy 1 phần hoà nước hạt bưởi uống

Hoặc 3 thứ cho vô nồi + 3 chén nước nấu còn 1 chén,uống sáng,chiều

THIẾU MÁU NÃO (thiểu năng tuần hoàn não,hay rối loạn MMN)

Do não thiếu ôxy,lâu ngày sẽ bại não.Nếu ngưng tuần hoàn não từ 6-7 giây sẽ ngất,nếu 40 giây-110 giây sẽ bị mất các phản xạ.Ngừng 5’ thì tế bào não sẽ chết không phục hồi được.Baby bị bại não do thai già tháng,hoặc khi sinh không sinh được,phải hút.Cách nhận biết đầu tiên:

-Cơn thiếu máu thoáng qua

-Váng đầu,hoa mắt(hoa 1 chút rồi hết),chóng mặt-do máu không bơm lên não

-Giảm trí nhớ(do lượng máu lên não không đủ)

*Điều trị:đưa ôxy (máu)vào (lượng ôxy đang nằm trong máu đỏ).Cải thiện các mạch máu não (do mỡ máu,hay do các cục máu đông trong lòng thành mạch)

-Bị xơ vữa động mạch (mỡ máu):mỡ không hoà tan với máu,mà bấm vào thành mạch gây xơ vữa động mạch làm máu không đi qua được-máu không đưa được tới não.Hoặc bị cục máu đông:do trong máu có chất fibrin kết tụ.Điều trị bằng cách tăng lượng ôxy,cải thiện tuần hoàn não.Tây y dùng diuxyl (giúp đưa ôxy lên não)và Tanakan (bạch quả,làm lưu thông tuần hoàn não)2 loại này uống liên tục sẽ hại não.Chỉ nên dùng thời gian đầu,giai đoạn 2 nên bấm huyệt hỗ trợ.Thường bị ở đỉnh đầu-tai-mắt

*Điều trị theo thập chỉ liên tâm pháp,làm theo thứ tự:

1)Bơm máu lên đầu:tay phải BN úp,dùng tay phải của ta khoá hổ khẩu,tay trái của ta day ngược huyệt thái lâu,giúp bơm máu lên đầu

2)Bơm máu vào mắt:tay phải BN úp dùng ngón cái tay tay trái của ta(để nghiêng)bấm đầu móng ngón 4 (khoá)// tay phải của ta day nhân tam 1

3)Bơm máu vào tai (ngón 5):tay phải BN úp,dùng ngón cái tay trái bấm móng ngón út (khoá)//tay phải của ta day nhân tam 1 dẫn máu vào tai.Hoặc chỉ khoá ngũ bội 5 (đốt 2)//day nhân tam 1,máu sẽ vào tai

*Nếu tự làm:Tay trái cầm viên đá thạch anh màu hồng sắc đỏ(hay màu huyết)không dùng màu đỏ quá sẽ làm bốc hoả.Tay phải của ta day.Muốn vào can để đá vào huyệt can ở tay (cột thun ở đốt cuối của ngón áp út)tay kia bấm

4)Sau đó dẫn máu chạy khắp cơ thể:dùng lắc kiểm tra lao cung,tay phải BN úp,khoá chí thế 4,5 day chí thế 1,2 khoảng 20 cái (day hướng lên),sau đó khoá chí thế 1,2 day chí thế 4,5 khoảng 20 cái,sau đó day cả 2 huyệt chí thế cùng 1 lúc,khoảng 20 cái.

Sau đó tay trái BN úp,tay phải của ta ngữa để dưới tay BN (khoá mặt âm)day (hay hơ)dương trì (từ khe ngón 3,4 kéo lên chỗ lõm cổ tay)

Kết hợp dùng:1-2 củ dền đỏ,8 hạt bach quả,nấu nước uống

TÁC DỤNG BẠCH QUẢ

Tăng tuần hoàn máu não,giảm triệu chứng sa sút trí tuệ,chống ôxy hoá (anti ôxydan).Tăng sức bền thành mạch,ngăn ngừa điều trị TBMMN.Dùng bạch quả hàng ngày = nấu nước uống,hay nấu chè

MĂNG CỤT (cả ruột và vỏ đều tốt)khi ăn xong phần ruột,lấy phần vỏ bỏ cuống nấu nước uống,1 ngày 20-40g.Hoặc kết hợp:

10g dâu tây (dâu tằm ăn,thay thế black bery),10g vỏ măng cụt,10g dâu tây,1/2 lít nước,nấu nước uống.Vỏ măng cụt cho vô bao nilon để tủ lạnh ngăn mát sử dụng được 1 tuần

GIẢM TRÍ NHỚ

1 trong các triệu chứng thường gặp nhất ở thời kỳ đầu của hiện tượng lão hoá,cần duy trì cải thiện trí nhớ.Tuyến yên (đầu)-tuyến giáp (cổ)-tuyến ức (sản sinh T4)-tuyến tuỵ (insualin)-tuyến thượng thận (sản sinh 4 loại trong đó có corticoid:kháng viêm).Bị sida cần làm tăng T4 sẽ hết (tuyến ức)

“thận tàng tinh,tinh sinh tuỷ,tuỷ thông lên não”Trong người nóng,bực bội,hay đập phá,bấm khu phản xạ cổ ở tay (tìm điểm đau).Kết hợp:

-Dùng bí đỏ acid glutamin (cần thiết cho cơ thể)có chất:trytophan (gây chấn phấn cho não),magnesium (cần thiết cho hệ thần kinh),C,E,caroten,chống ôxy hoá (giúp tế bào thần kinh hồi phục).Thuốc tây y có glutaminol.Dùng 10g bí đỏ =1,57mg glutamic.

-Khi làm việc hay học hành nhiều sẽ gây căng cơ,trong bí đỏ có chứa magnesium giúp giảm .Sau khi bị tai biến chất trytophan trong bí đỏ giúp hồi phục chấn phấn não,Màu vàng của bí caroten (vitamin A)

-Mùa thi (mùa hè)nóng,nấu bí đỏ với đậu xanh giúp thanh nhiệt,giải độc tố

-Núm bí đỏ không bao giờ rụng,phơi khô (hoặc sấy)tán mịn thành bột,phụ nữ uống sẽ không bao giờ sanh non,sáng 2 muỗng,trưa 2 muỗng,chiều 2 muỗng

RAU BINA

Cải bó xôi (rau chân vịt)giàu acid folic,bảo vệ con người chống lại bệnh alzheimer (lú lẫn,mất trí nhớ)là chất chống ôxy hoá,chống lão hoá não.Acid folic là chất tổng hợp hỗ trợ cho B12,B6.Da xanh có thể thiếu acid folic.Phụ nữ thiếu acid folic sinh non.Luộc trong nước mất chất không tốt(nếu luộc nên đậy nắp).Cắt khúc 100g + nước xau sinh tố,lọc bỏ xác,sáng uống 1 ly,chiều uống 1 ly,uống 1 thời gian sẽ cải thiện trí nhớ

*Người lớn tuổi,khi giảm trí nhớ sẽ ảnh hưởng đến đường tiêu hoá,lúc đó xay sinh tố (để nguyên xác không lọc)uống giúp tiêu hoá tốt,chống acid béo,triglycerid,chất xơ của rau= ngoại hấp thu (hấp thu các chất mỡ)sau đó nội hấp thu(bài tiết ra ngoài theo phân)

*Người bị mỡ trong máu nên ăn,uống rau này

BÓN KINH NIÊN

1)Do trực tràng không còn tín hiệu lên não (do nín lâu ngày).Phải tạo lại thói quen từ 5-7 giờ sáng ngồi vào bồn cầu (3-5 giờ của phế,5-7 giờ của đại trường)tập rặn theo thói quen.Sáng ngủ dậy uống 1 ly nước ấm 200ml khoảng 30’ sau đi vào toilet,bấm mạnh huyệt đệ nhị gian bên tay trái (ngay nơi giáp ranh khe ngón 2,3 bên cạnh nhị gian),uống nước ấm k/t mạch máu và k/t nhu động ruột co bóp,đây là huyệt đặc trị chữa đại tiện,bí kết

2)Do ruột hơi quá dài (siêu âm mới thấy rõ)thường phải đến bệnh viện cắt bớt,trường hợp này đông y khó trị,chỉ bấm làm tăng nhu động ruột

*Thường chữa bên lành trước,khí bên lành sẽ dẫn qua nuôi bên bệnh,sau đó chữa bên bệnh

CHÓNG MẶT HOA MẮT (hội chứng bình thường)

-Thấy mọi vật như xoay tròn.Hoặc thấy mọi vật bồng bềnh như đang ngồi trên thuyền,đi trên sóng.Do rối loạn cảm giác thăng bằng gây nên

*Khi bị hoa mắt chóng mặt,nhắm mắt lại 1 chút,sẽ cân bằng

*Kiểm tra:đứng thẳng 2 chân giang rộng bằng vai,co chân phải lên,lòng bàn chân phải đặt lên đầu gối chân trái,đưa 2 tay ra phía trước,nhắm mắt lại,khi mở mắt ra vẫn giữ được tư thế =tốt,nếu tư thế nghiêng,không vững có rối loạn.Bấm huyệt quan xung (tĩnh huyệt đk tam tiêu,chóng mặt(thượng tiêu)kèm buồn nôn hoặc nôn (trung tiêu),són tiểu hay tiểu không tự chủ (hạ tiêu),sau đó bấm dịch môn,trung chữ,dương cốc,khu tai họng ở tay

 

 

CHÓNG MẶT DO TAI TRONG (Hội chứng Mesnine)-RỐI LOẠN TIỀN ĐÌNH

*khi bị hoa mắt chóng mặt,nhắm mắt lại 1 lúc vẫn thấy chóng mặt=Rối loạn tiền đình,hay còn gọi chóng mặt do tai trong (do vòi Eutachi)hoặc đang nằm,thay đổi tư thế gây xây sẩm,do áp lực dẫn vào tai,cách chữa giống chóng mặt hoa mắt (bình thường)bấm thêm khu tai mũi họng

Kiểm tra:hít 1 hơi thật mạnh,lấy 2 tay bịt 2 cánh mũi,thở ra bằng mũi,nghe khí ra lỗ tai=bình thường,nếu không nghe được khí ra ở lỗ tai = tắc vòi Eutachi

BẤM THEO THẬP CHỈ LIÊN TÂM PHÁP:khoá chí thế 4,5 day chí thế 1,2.Sau đó khoá chí thế 1,2 day chí thế 4,5.Sau đó day 2 huyệt chí thế cùng 1 lúc.Tay phải  BN úp,tay trái của ta ngữa để dưới,tay trái khoá (bấm)ngón út,tay phải của ta day nhân tam 1

RỐI LOẠN TIỀN ĐÌNH

-Ấn vào huyệt ế phong mạnh (không day)đếm 1,2,3,4,5 ngừng ấn tiếp như vậy vài lần.Hoặc trước bình tai,ấn mạnh ngay chỗ lõm trước tai đếm 1,2,3,4,5 ngưng sau đó ấn tiếp như vậy vài lần

-Chân phải BN(tay trái của ta ngữa để dưới chân BN)nghiêng tay vào khe 4,5 (chỗ trũng nhất của khe)Khoá (đè chặt)thái xung huyệt can,day túc lâm khốc (day hướng vào trong chân),sau đó khoá túc lâm khốc day thái xung (đởm),sau đó day cả 2 huyệt cùng 1 lúc.

*Parkinson:BN tay run,cầm vật gì thì hết run,bấm như trên

BÀI  THUỐC BÁN HẠ BẠCH TRUẬT THIÊN MA THANG (chữa chóng mặt)

Bán hạ chế 6-8g,bạch linh 8-12g,bạch truật 8-12g,thiên ma 6-8g (vị thiên ma quyết định),quất hồng 6-8g,cam thảo 2-4g .

Bán hạ trần bì hoá đờm trừ thấp,kiện tỳ.Bạch truật thánh dược kiện tỳ (phải sao vàng:sao với cám hay đất lòng bếp:còn gọi là táo tâm thổ,là đất âm dương,hỗ căn,giúp điều chỉnh tỳ vị trung tiêu).Bạch linh thẩm thấp lợi tiểu (thẩm thấp #mỡ trong máu,choleterol)thấp trọc làm trì trệ “thấp thương tỳ”trung tiêu,do trung tiêu không làm việc được,không thể đưa máu lên não gây hoa mắt thượng tiêu // khí trọc xuống hạ tiêu-Điều chỉnh trung tiêu là chính,dùng bán hạ,bạch truật,quất hồng dẫn đến trung tiêu

*Bài thuốc này hợp với người Trung quốc do ăn nhiều chất béo,không hợp với người VN vì người VN thiếu dinh dưỡng:dùng thêm 12-20g long nhãn

ĐẤT BẾP LÒ (táo tâm thổ,đất âm dương)BN nấc liên tục cả ngày lẫn đêm,gầy ốm,lấy 1 cục đất bếp lò đập nát + nước sôi hoà tan,lóng nước trong ,cho BN uống từng muỗng

VIÊM XOANG

Hột nhãn lấy phần bên trong màu trắng phơi khô.Lấy 1 viên gạch (hay ngói)nướng trên than cho nóng,phết ít mỡ,rắc bột nhãn lên,dùng ống hút (làm từ cuống lá đu đủ)hít 1 thời gian sẽ hết viêm xoang.Ngoài ra dùng chữa đau răng,cách làm như trên (cho ống hút đu đủ sát răng)

CHOÁNG NGẤT

Do hệ hô hấp:hơi thở yếu nhẹ,suy hô hấp.Do tuần hoàn:tay chân truỵ mạch (mất mạch),lạnh người.Do thần kinh:choáng ngất,hôn mê

Bấm nhân trung và dái tai (công dụng giống nhau)có nhiều dây thần kinh,giúp tăng hô hấp thở mạnh lên,tăng tuần hoàn,làm mạch đập lại,người ấm lên,phục hồi thần kinh

THỰC HIỆN:tay phải của ta để vào nhân trung BN// tay trái của ta bấm trái tai BN,sau đó bấm thêm khu tai họng,thận,can,tuần hoàn não ở tay BN

TÓC BẠC SỚM do tình trạng dinh dưỡng của tóc xấu đi,men tạo các hắc tố giảm gây ra.Do thận đặc biệt tuyến thượng thận suy yếu.Bấm trung xung tĩnh huyệt đk tâm bào (liên hệ tạng tâm,chủ huyết)đk tâm bào là thủ quyết tâm,phía dưới chân là là túc quyết âm can,cả 2 đồng danh nên tác dụng giống nhau.

Hà thủ ô dẫn vào can,thận.Thường hà thủ ô nấu với đậu đen.Hơ cứu huyệt mệnh môn,thận ở tay,và mệnh môn hoả ở lưng.Thủ tâm (# lao cung tương ứng hệ thần kinh đối giao cảm).

*Kiểm tra: nhắm mắt,2 khung mắt vẫn hoạt động (đảo).Lưỡi thè ra lắc bên này hay bên kia.Bấm thủ tam lý (từ lằn khuỷ tay đo xuống phía cổ tay 3 thốn) ấn đau tức rối loạn thần kinh đối giao cảm.Mỗi tối nên day huyệt thủ tam lý,cho đến khi thấy huyệt này không còn đau

TÓC RỤNG

Mỗi ngày 50 sợi tóc rụng là bình thường,nếu rụng trên 100 sợi/1 ngày cần chú ý.Do thiếu vitamin D và omega 3 (hay omega 6)

*Lưu ý:A,D,E,K chỉ tan trong dầu,không tan trong nước

*Baby:có thể dùng D kèm với mỡ hay dầu thực vật,hay dầu cá,giúp xương cứng phát triễn (trong dầu hay mỡ có choleterol baby cần để hấp thu)

*Người lớn:không dùng dầu cá (vì choleterol dư không thải ra được),khi dùng vitamin D dùng kèm omega 3 (hay 6)có chất antioxydant để loại bỏ choleterol

RỤNG TÓC CẤP TÍNH

1)Do ngộ độc vàng,thuỷ ngân,chất phóng xạ.

Sau xạ trị thường bị rụng tóc(tóc là phần dư của huyết),vì vậy trước khi xạ trị dùng bài “bổ quy tỳ”.Sau khi xạ trị thường bị ói chóng mặt,say xẩm vài ngày,dùng “bổ quy tỳ”giúp cơ thể mau phục hồi

2)Thuốc ngừa thai chủ yếu là chất progeston và oestregon,sử dụng lâu dài ảnh hưởng tóc.Stress,tâm thần thường rụng tóc giữa đỉnh đầu.

3)Sốt rét mặt xám,tóc rụng (khác với người sử dụng ma tuý:mặt xám nhưng tóc không rụng,tay có nhiều vết kim),nhiễm trùng sau khi sinh dùng bài “Bổ trung ích khí” thêm kim ngân hoa và bồ công anh (2 vị thuốc sát trùng rất tốt)

*Phụ nữ sanh baby bị tắt sữa,ngực căng cứng,gây áp xe:dùng cả 2 pp sau:

a)Bồ công anh nấu với nước uống

b)// giấm và rượu nấu âm ấm + bồ công anh hoà sền sệt đắp lên ngực (giấm vị chua vào can,rượu dẫn)

*Bài “bổ trung ích khí”chữa sốt không rõ nguyên nhân

RỤNG TÓC MẠN TÍNH
1)Thường gặp do quá trình phát triễn bã nhờn trong cơ thể

2)Do dầu gội đầu,do thuốc nhuộm và những hoá chất sử dụng uốn tóc.

3)Do thiếu dinh dưỡng,thiếu vitamin và các chất khoáng (kẽm:trong con hến),do chấn thương,bệnh thần kinh,bệnh nội tiết

*Khi tóc rụng,tinh trùng cũng bị ảnh hưởng:vì lượng kẽm ở tinh trùng nam sẽ giảm (vùng sinh dục liên hệ thận,tóc liên hệ thận,tóc là phần dư của huyết)-nên bổ sung kẽm và bổ thận âm (huyết)

4)Bị nấm da đầu:vùng đó bị tổn thương,ngứa.Tây y phải cạo trọc bôi thuốc.Đông y:dùng lá trầu  không (lá trầu),vài lá trầu giã giập + rượu 30*(hay acol)ngâm 1 tuần,dung dịch sánh,màu vàng xanh,bôi lên chỗ nấm trên đầu

*Ngoài ra dung dịch lá trầu còn chữa hết chàm (thấp chậm),hắc lào (nấm đồng tiền:thường có ở vùng kín,nếp háng,dưới bìu dái

CHỮA RỤNG TÓC

1)HÀ THỦ Ô ĐỎ:1kg hà thủ ô đỏ,1kg đậu đen,cứ 1 lớp hà thủ ô,1 lớp đậu đen (TC:nam 7 nữ 9 lớp)+ nhiều nước nấu cạn phơi khô,sau đó cho vào nồi + nước nấu tiếp phơi (TC 7-9 lần)có thể bỏ đậu đen,xay bột 1 lần uống 20g

2)HÀ THỦ Ô ĐỎ + ĐƯƠNG QUY + MÈ ĐEN + CỎ MỰC

Đương quy bổ huyết (chứa oestregon và progesteron)trị kinh nguyệt không đều.Nam/nữ rụng tóc chú ý nội tiết tố,sử dụng hà thủ ô đỏ và đương quy (nếu người bình thường không cần đương quy).Mè đen,cỏ mực (cỏ nhọ nồi):màu đen vào thận.“Thận tàng tinh,tinh sinh tuỷ,tuỷ thông lên não”

*1 bài thuốc Đông y gồm có:quân (chính),thần + tá (phụ trợ),sứ (dẫn)

-Người già:hà thủ ô (quân),đương quy (sứ),mè đen + cỏ mực (thần)

-Tuổi mãn kinh,nội tiết tố nam nữ:hà thủ ô (quân),đương quy (thần),mè đen + cỏ mực (sứ)

THUỐC THOA NGOÀI TRỊ RỤNG TÓC

1)Tinh dầu (hoa,lá vỏ)bưởi,bồ kết,hay dầu dừa bôi lên đầu,hay vitamin E (có chứa antioxydan).Hoặc dùng lô hội nấu chè,hay nấu nước uống.Hoặc dùng rau dền gai đỏ giã nát hoà tí nước,đắp lên đầu (lưu ý ăn nhiều rau dền gây sạn thận)

LẸO MẮT (do viêm tuyến mi)gây sưng đau,khó chịu,nhức mắt không mở mắt được,gây sốt.Nếu không chữa vài ngày sau có mủ,mủ vào mắt làm hư mắt.Vài tháng sau sẽ tái lại ở nơi khác.Đông y làm 1-3 lần sẽ hết:

-Nhĩ tiêm:tai gấp lại điểm cao nhất,dùng kim chích cùng bên với mắt bệnh

-Phế du:lưng từ D3 đo ra 2 bên 2 ngang ngón tay # 1,5 thốn (chích đối xứng mắt bên bệnh

-Huyệt thâu châm (D4 hay D5):châm bên đối xứng với mắt bệnh

HUYỆT NHĨ TIÊM gấp vành tai lại,đỉnh cao nhất là tiết đoạn thần kinh L (mắt và tai cùng 1 tiết đoạn)

HUYỆT THÂU CHÂM khoảng D4,D5 (tay chéo qua vai bên kia,cánh tay tỳ sát cằm,tay với ra sau ngón giữa thẳng xuống)vùng tâm hoả,khi viêm(hoả),mi mắt trên liên hệ tỳ,mi dưới liên hệ thận,thường viêm ở mi mắt trên.Do mẹ (hoả)chuyền sang cho con (thổ).Chích huyệt thâu châm,nặn máu (tả)

HUYỆT PHẾ DU đốt sống lưng D3 ra 2 ngang ngón ta.Huyệt tịnh minh(khoé mắt trong sát mũi,liên hệ đk bàng quang).Viêm ngoài(da)phế chủ bì mao,da lông,huyệt phế du nằm trên đk bàng quang,da lông,chích phế du,hơi nóng sẽ theo đk bàng quang thoát ra ngoài.Nếu bị nặng làm 2-3 lần

CHẮP MẮT (hạch)không gây đau,nhưng khó chịu,dùng kim (hay loại kim lấy máu tiểu đường)chích phế du,nặn máu,dùng ống giác hơi hút (làm da phù lên,sẽ kéo theo độc tố ra theo)30’nặn thêm máu vùng đó

MẮT ĐỎ DO XUNG HUYẾT  Thường bị vào tháng 11-12 dương lịch,do vi rút gây ra,qua tháng 2 nắng nóng vi rút không có điều kiện phát triễn,đỏ hết mắt,gây nhức,mờ.Tây y nhỏ thuốc muối sinh lý.Các huyệt có tác dụng làm tan xung huyết ở mắt theo Đông y:

-Chích nặn lấy máu ở nhĩ tiêm

-Bấm huyệt nhãn điểm,hợp cốc,thương dương,nhị gian,ngư tế,đại lăng,thiếu xung,trạch điền hợp cốc (huyệt đặc hiệu chữa tất cả các bệnh về mắt:nghiêng cổ tay  chỗ lõm h.dương khê vào 1 tí là trạch điền hợp cốc)bấm mạnh

MÕI MẮT

-Mõi mắt sinh lý bấm thiếu trạch (gấp 5 ngón tay lại,ngay nếp gấp ngón út (trên đường sinh đạo)day hướng vào trong (lên mắt),mõi mắt nào làm mắt đó

-Huyệt thủ tâm (giữa lòng bàn tay)tác dụng # thần kinh đối giao cảm,tìm điểm đau day ngược chiều kđh

-Huyệt minh mẫn:phía ngoài ngón cái đốt 1.Huyệt phượng nhãn (phía trong ngón cái đốt 1 )Người già day 2 huyệt cùng 1 lúc,có thể gắn 2 viên đá thạch anh hồng sáng hôm sau lấy ra

LÃO THỊ  trên 40t mắt yếu,nhức do lão thị gây ra,day huyệt lão nhãn điểm hàng ngày.Huyệt dưỡng lão (từ ngón út kéo xuống cổ tay có cục u,tuột xuống có chỗ lõm,day hướng lên mắt

HUYỆT MỤC MINH từ  giữa con ngươi mắt kéo lên đụng chân tóc(trên đầu)

BỆNH GLAUCOMA (GLÔ- CÔM)

1)Do áp suất trong con mắt từ từ tăng lên,làm hư hại dây thần kinh mắt,nếu không chữa kịp sẽ gây mù loà.Áp suất trong con mắt khác với áp suất trong mạch máu,có thể xảy ra từ từ,gọi là kinh niên hay cấp tính.Triệu chứng gồm có:mắt mờ,nhìn hạn hẹp,nhức mắt,buồn nôn,mắt đỏ.Khi nhãn áp tăng đến mức độ nào đó con ngươi sẽ nổ nghe tiếng “bụp”đồng tử nổ biến màu xanh không nhìn thấy-gọi là thanh manh hay đục nhãn mắt.Phải giảm hết áp lực của mắt.

-Đang ở trong phòng lạnh,trong phòng mắt nhìn cửa kiếng râm mát,vì công việc phải đi ra ngoài nắng chói,2 môi trường khác biệt,phải đeo kính mát chống nắng

2)Nhãn áp bình thường 1,5 đến 3 kpa (10-22 mmHg),qua nhiều lần đo mà nhãn áp vẫn cao hơn 3kpa phải nghĩ đến bệnh glau coma (glô côm)

3)Cơn glô côm:triệu chứng đau nhức mắt,đau lan lên đầu cùng bên,có thể gây buồn nôn,hay nhìn mờ thấy quầng xanh đỏ

*Lưu ý:khi té đập đầu xuống đất,ói liên tục,do tăng áp lực,sọ não tăng gây HAC.Hoàn toàn khác với  người có cơn glô côm,nhìn bóng đèn (loại bóng tròn màu vàng)thấy chói loé mắt

4)Cách chữa:

a)cúc hoa ngâm nước nóng cho nở ra để nguội,lấy 1 phần đắp vào hết khuôn mắt,khi khô thì bỏ vào ly ngâm ướt,lấy phần còn lại làm tiếp #30’ BN nhìn dễ(rút hơi nóng ra ngoài,giúp nhãn áp không bị tăng).Nếu làm 30’nhưng không hiệu quả nên đến bệnh viện

b)Lá sống đời tươi,giã nát,nhắm mắt lại đắp lên vùng mắt,khi khô thay mới,làm liên tục đến khi mắt hết nhức # 30’ (sống đời hái từ 6-9 giờ sáng có chất penniciline cao nhất giúp kháng khuẩn)

5)Huyệt làm giảm nhãn áp(huyệt cấp cứu)

a)Cuối khe ngón tay 2,3

b) Giữa đốt thứ 2 của ngón giữa là huyệt mặt có tác dụng hạ nhãn áp.Bị cây gôn bay vào mắt,gây sưng đỏ,lễ 2 huyệt trên

c)Trạch điền hợp cốc:nghiêng cổ tay chỗ lõm h.dương khê vào 1 tí là trạch điền hợp cốc,hoặc từ chổ u trên cổ tay ngoài tuột xuống chỗ lõm trước chỗ u,châm nặn tí máu

d)Huyệt đại cốt không:tay úp lằn chỉ 1 ngón cái.BN bị mảnh vụn của đá bay vào mắt (do điêu khắc đá),châm kim đại cốt không,khi mãnh đá vụn rơi xuống mi dưới,dùng bông gòn lấy ra

6)Điều dưỡng lại mắt:có  2 chất Lutein và zeaxanthin là chất carotenoids,giúp chống lại các bệnh về mắt khi về già.Chất lutein có trong màu vàng của trái bắp,và lòng đỏ trưng gà,2 chất này không có trong cơ thể mà do thức ăn và dinh dưỡng đem đến.Lutein có trong rau dền (spinach),bắp vàng nhiều lutein,thuỷ tinh thể được cấu tạo = chất đậu protein,trong đó chứa lutein và zeaxanthin,tuy không nhiều bằng trong võng mạc

*Nếu không tăng cường lutein sẽ đục thuỷ tinh thể,và không bị cườm mắt,lutein nuôi dưỡng thuỷ tinh thể.Dùng thuốc có chứa lutein lâu ngày có hại

7)Thức ăn chứa Lutein:

-Cải xoăn (salad xoăn)là 1 trong những nguyên tố tốt nhất,chứa lutein hỗ trợ trong việc phòng chống thoái hoá điểm vàng,chứa beta carotene là 1 dạng vitamin A có lợi cho thị lực

-Kiwi chứa lutein (phytochemical)hàm lượng  lutein cao nhất và chứa vitamin C,giúp ngừa mù loà của tuổi già,bảo vệ mắt chống lại các áp lực môi trường và nguồn sáng của năng lượng cao.Vitamin C và antoxidant

-Trà xanh chứa catechin chất oxy giúp giảm áp lực căng trên não,nhóm oxy hoá catechin bao gồm:vitamin C,E,lutein,zeaxanthin được biết đến là những chất mang đặc tính hiệu quả trong vấn đề phòng ngừa các bệnh về mắt

8)Ngăn ngừa glô- côm:ăn rau trái cây,ăn nhiều hạt nguyên chất như bánh mì nâu,ít dùng chất béo,tránh rượu,café thuốc lá,dùng sinh tố A,B1,C,magnesium,lecithin,fatty acids,ginkgo biloba.Tất cả có trong bột gạo lức

 

VIÊM TAI GIỮA

1)Nhĩ nùng,đình nhĩ,thối tai,tai chảy mủ,sưng,màng trống.

Có 3 dấu hiệu chính:sốt,tiêu chảy (do mủ chảy xuống ruột),đau tai

*Baby tắm chơi với nước làm nước vào tai.Kéo tai baby ra,bé kêu đau,coi chừng có nhọt trong ống tai.Nếu kéo tai ra bé không đau,đè vào tai (bình tai)hay đè phía sau tai (ế phong)bé khóc thét không nín,có thể có hay chưa có mủ-dấu hiệu viêm tai giữa

Mủ=bạch cầu + vi khuẩn chết tạo thành,vi khuẩn vào tai gây viêm,nếu mủ nhiều lan vào xương chẩm(sau tai)tấn công não gây tổn thương,đần độn,dại khờ,hay chết.

2)Điều trị viêm tai giữa:hành hương (hành tím khô)lột vỏ giã giập,cho vào lần miếng compress cuộn lại nhét vô tai,để qua đêm sẽ hút mủ ra,hôm sau lấy ra,làm 2-3 .BN bất tỉnh,làm như trên để vào mũi (thông lên tai họng)tỉnh dậy

Kết hợp dùng bài LONG ĐỞM TẢ CAN THANG

(tác dụng thanh nhiệt giải uất kết,thanh lợi,thấp nhiệt)

Long đởm thảo (rượu sao)12g:thanh thực hoả can,đởm (vị rất đắng).Hoàng cầm 8g,chi tử (rượu sao)12g:hổ trợ thêm,tác dụng thanh can đởm thực hoả.Đương quy (rượu sao)8g,sinh địa hoàng 8g:dương ôn huyết hoà can.Sài hồ 8g:sơ thông can đởm.Xa tiền tử 6g,trạch tả 8g,mộc thông 8g:thanh lợi thấp nhiệt.Cam thảo 2g:điều hoà các vị thuốc

*Nữ can khí uất kết gây huyết trắng,dùng bài thuốc trên,1 mặt nấu uống // 1 mặt nấu ngâm cửa mình,rửa

*Bị phù bàn chân:toa thuốc phải có trạch tả mới đẩy được phù ra ngoài được

TAI Ù-Ù TAI

1)Ù tai:tiếng trầm ù ù từng lúc,có khi nghe kém,cần xem dái tai,dị vật tai giữa,bị viêm,mủ,cục ráy.Phụ nữ đầu vú hay tiết dịch (sữa)hầu như tai cũng có dịch,dần dần khô cứng lỗ tai.Dùng ôxy già (loại 2-3 voluml)nhỏ vào tai 3-4 giọt,1 lúc sau sẽ sôi sùi bọt trong tai,dùng bông ráy tai ngoáy ra

-Hoặc do thận khí yếu (thận khai khiếu ở tai)tăng thận khí sẽ lên tới tai

a)Dùng cật heo (bỏ màng trắng)khứa trên mặt + rắc bột namg mực (hải phiêu tiêu,hay còn gọi ô tặc cốt),chưng cách thuỷ chín,1 tuần ăn 2-3 lần “dĩ tạng bổ tạng”ăn gì bổ nấy,hoặc “đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu”

b)Kết hợp dùng bài “lục vị địa hoàng hoàng” bổ thận âm,có thêm tang ký sinh (dây tầm gởi trên cây).

*Lưu ý thận (chứa acid uric)nếu càng cao dễ bị gout,BN có acid uric cao không dùng cật heo(a),chỉ dùng bài thuốc (b)

2)Điều trị

a)Cách 1:thái khê (nguyên huyệt đk thận)dùng thạch anh đen để vào thái khê dán lại để qua đêm, 2 thận du sau lưng,rót kinh khí vào thận (xoa 2 lòng bàn tay nóng,úp vào 2 thận sau lưng,mục đích xoa nóng 2 lòng bàn tay,để kích thích lao cung làm việc,kích thích thận (mã số thận thuỷ 6)làm 2-3 lần (số 3 vừa âm vừa dương)kích thích thận âm và thận dương

b)Cách 2:phương pháp kích thích thận  (để 1 tay trước bụng,1 tay sau lưng,luân chuyển 2 tay)mục đích đập vào thận sau lưng

c)Cách 3 khoá ngón:BN nhắm mắt,tay phải BN úp,tay trái của ta để dưới,bấm (khoá)móng ngón út,day nhân tam 1.Sau đó khoá ngũ bội 5 day nhân tam 1

Nguyên tắc khoá móng:khoá 1 trong các đầu móng,day nhân tam 1,hoặc day huyệt dương trì nguyên huyệt đk tam tiêu

Sau đó làm thêm:dùng bút bi ấn vào huyệt thính hội,thính cung,thính mẫn trước tai,ấn 6 lần cho mỗi huyệt (làm 18 lần 3 đợt)hoặc dùng đá đen

*Làm mỗi sáng:để 2 ngón cái vào giữa tai,ấn chặt,đè mạnh đếm từ 1 -6 buông ra,sau đó làm tiếp vài lần

Ù TIẾNG CAO NHƯ VE KÊU

1)Ù từng cơn,lâu lâu cảm giác như nghe tiếng ré máy bay,chóng mặt,nghe khó thường do tổn thương trong trường hợp thực chứng (mới bị).Dùng bài “Long đởm tả can thang”kết hợp thêm cúc hoa (thông các đk ở tai),thuyên thoái (xác ve sầu nhẹ:khi sống ở trên cao,khi chết xác rụng xuống đất nên kết tụ vừa âm dương)tang ký sinh-đau do đk đởm bịnh.Lạc của đk đởm H.quang minh,nguyên của can H.thái xung “tà chi sở tấu,kỳ khí tắc hư”Sử dụng đá xanh ở can,thái xung dẫn vào lạc,đá trắng lạc quang minh dán băng keo để qua đêm

2)2 tai ù liên tục ngày càng tăng,nghe kém,có thể do tắc vòi eustachin (thông với họng mũi)kiểm tra bằng cách:Hít 1 hơi mạnh bịt 2 cánh mũi,thở mạnh = mũi (làm 5 lần),nếu hơi không ra tai tức vòi eustachin bị tắc.Tập hàng ngày cho BN:bịt  1 bên cánh mũi,hít vào,thở ra 1 bên mũi,sau đó làm bên kia,có thể do dị ứng,đái tháo đường,HAC,não có khối u,chấn thương đầu.Khi thử máu nếu lượng đường trong máu glycemie cao (bám thành mạch gây tắc,dẫn đến mờ mắt do biến chứng tiểu đường).Khi tai ù do đái tháo đường phải trị tiểu đường là chính (biến chứng gây nên).

Bấm (châm,hay dùng đá thạch anh):thận,quang xung (tĩnh huyệt đk tam tiêu),tiền cốc (thuỷ huyệt đk thận),dương cốc (nguyên đk tiểu trường)

BỆNH ALZEIMER (tên bác sỹ người Đức)

Alzeimer là bệnh suy giảm trí nhớ,lú lẫn,mất trí nhớ,đãng trí,tự dưng bị sút trí nhớ,học thi căng thẳng,lo âu,stress…do tổn thương của các tế bào ở vỏ não và cấu trúc xung quanh (bệnh từ từ càng nặng và không hồi phục

Toàn bộ não của con người đều tham gia vào quá trình ghi nhớ,trong đó có vùng ở 2 bên đầu (gọi là chân hãi mã:liên quan đến trí nhớ),mất trí nhớ do tổn thương vùng 2 bên đầu.Trí nhớ theo đông y liên hệ đến tỳ vị (tỳ tàng ý)huyệt xá ý (cách huyệt tỳ du 2 ngón tay).Liên hệ tạng tâm và trí nhớ.Dùng bài “quy tỳ thang”khi bổ tâm tỳ sẽ giúp thần trí vững ăn ngủ tốt

65t trở lên dễ bị,người da trắng và á châu ít bị,người gốc phi và tây ban nha thường bị do HAC và choleterol  máu,huyết áp tâm thu cao

Bệnh chia 2 dạng:khởi phát sớm trước 65t và sau 65t,đa phần xảy ra sau 64t.Giai đoạn đầu không nhớ việc gì xảy ra

Rối loạn trí nhớ:                                                 Rối loạn ngôn ngữ:

RL hoạt động ,mất trí nhớ hoàn toàn           RL trí tuệ,mất tập trung tư tưởng

*Alzeimer:không nhớ hoàn toàn,khác với bệnh thiếu máu não(RLTHN,giảm trí nhớ):khôg nhớ nhưg sau đó nhớ,ví dụ:khôg nhớ chìa khoá ở đâu,1 lúc sau nhớ

Diễn  tiến bệnh:nhầm lẫn,khó chịu,thay đổi tâm trạng,mất khả năng phân tích ngôn nhữ (nhìn 1 chữ biết,nhưng không nhớ là chữ gì..)mất trí nhớ dài hạn.Nguyên nhân do não không được máu đưa lên đủ:tiểu đường(gây biến chứng mù mắt,lở chân tay,lên não gây nghẽn tế bào não),acid uric cao (tổn thương thận,không điều chỉnh được gây huyết áp)suy giảm chức năng tuyến giáp,thiếu intracelluta (tế bào hệ miễn dịch),bịnh tim mạch,suy dinh dưỡng,ô nhiễm môi trường,ngộ độc nhôm,thuỷ ngân,di truyền 50%,lạm dụng quá nhiều đường fructose (trên 25g/1 ngày)         

Dinh dưỡng:rau xanh,ngũ cốc,các hạt,trứng sữa,trái cây

1)Bạch quả (ginkgo biola):tăng tuần hoàn não,giảm triệu chứng sa sút trí nhớ,chống ôxy hoá,tăng sức bền thành mạch,ngăn ngừa điều trị TBMMN,chắc thành mạch.Khi học thi căng thẳng dùng bài “quy tỳ thang”,kết hợp nấu bạch quả lấy nước uống giúp dẫn máu lên não

*Bạch quả dẫn máu lên não,đinh lăng dẫn khí lên não-thường nam dùng,nếu nữ dùng bạch quả và đương quy (điều chỉnh máu ở não).Hoặc có thể dùng củ dền có được 2 chức năng luộc hay nấu nước uống giúp tăng hồng cầu.

-Nam:dùng 8 hột bạch quả,20g đinh lăng,1 củ dền đỏ,tác dụng rất tuyệt vời.

-Nữ:8 bạch quả,20g đương quy,1 củ dền đỏ,có thể thêm ít đinh lăng

2)Bí đỏ acid glutamic (trytophan):có chứa Magnesium (giãn cơ chống căng thẳng),vitamin C,E,beta caroten(tiền sinh tố A),chống ôxy hoá,giúp thần kinh sớm hồi phục.Mùa hè thi nấu bí đỏ + đậu xanh bổ não thanh nhiệt,giải độc

3)Khoai lang carbonhydrate (lọc máu),vitamin B6(giúp không bị chóng mặt),chống ôxy hoá,cải thiện sức mạnh bộ não,khoai vỏ vàng (ăn cả vỏ)có chứa antioxydant hỗ trợ đường ruột.Mỗi ngày nên ăn 2 củ khoai + 1 ly sữa đậu nành (tương đương 1 tô phở)

4)Chuối:kích thích hoạt động não,tạo xơ,ngày dùng 3 trái

5)Dứa (thơm)vitamin C(giúp tĩnh mạch lưu thông),mangan (giúp thư giãn thần kinh),ép lấy cốt gói bánh chưng mau chín

6)Hồ đào (óc chó)cải thiện công năng và tăng sức chịu đựng của đại não,điều tiết hoạt động của đại não,giữ cho công năng của tế bào não bình thường,kéo dài tuổi thọ tế bào não

7)Nhân sâm chứa B1,B6,B12,C,đồng,kẽm,maga potassium,folate,choline

8)Rau lá xanh:cải xanh,cải trắng,súp lơ,rau bi na (cải bó xôi,chân vịt).Hay quên do giảm homocystine trong não,nếu lâu ngày dẫn đến bệnh alzheimer

9)Trà xanh chống ôxy hoá(antioxydant)dùng nóng tốt hơn lạnh,không uống buổi tối (nếu người bị khó ngủ),dùng hàng ngày tăng trí nhớ

10)Cá hồi:omega 3 (chất béo no,giúp chuyển hoá nhanh các vitamin),giúp phát triễn duy trì chức năng não,đầu cá hồi bổ não

*Các chất tan trong dầu:vitamin A,D,K (anh đau em khổ)

11)Não động vật chứa omega 3,phospolipid (giúp huỷ tất cả các chất béo trong cơ thể,chỉ sử dụng chất béo tốt),lòng đỏ trứng gà-chỉ cung cấp nguyên liệu chứ không hiện diện nguyên vẹn

PHÒNG NGỪA ALZHEIMER

*Hàng ngày:Để tay cái vào giữa lòng bàn tay nắm chặt 20 cái,ngưng 5 cái,làm tiếp như vậy 5 lần,sau đó nắm chặt tay tạo thành nắm đấm,ngón cái để ngoài đè lên đốt 2 ngón trỏ,nắm chặt 5 lần (ngưng 5 cái)làm tiếp 5 lần. 

*Ấn mạnh tay vào phong phủ đếm 1,2,3,4,5 (buông tay 1,2,3,4,5)tiếp tục làm tổng cộng 5 lần (đây là vùng NHỚ + QUÊN,chứa tuyến yên và tuyến tùng,chứa 5 ngũ hành)

*Bấm theo thập chỉ đạo:tay phải BN úp,khoá hổ khẩu// bấm đoạt thế hướng lên não,sau đó nhật bách,thái lâu,sau đó bấm nhật bách (từ bờ vai xuống #5cm).Kết hợp đi bộ nhanh 10.000 bước/ 1 ngày giúp máu chạy lên não,đưa máu lên tim 20’

TRÁI MÚI GIỜ

Việt kiều khi về VN do trái múi giờ (nhịp thời gian 24 giờ bị xáo trộn)phải điều chỉnh melaton.Bấm

-Tuyến tùng (giữa lòng bàn tay)giúp sản sinh melaton

-Tuyến yên ngón cái ngữa,giữa đổt 1,còn gọi là khu phản xạ đầu (não).

-Khu phản xạ cổ:giữa đốt 2 ngón cái ngữa (tuyến giáp_

-Thận: “thận tàng tinh,tinh sinh tuỷ,tuỷ thông lên não”bồi bổ gốc tiên thiên,rờ tìm điểm đau.Hàng ngày bấm 4 huyệt trên             

SỖ MŨI

Thường phát bệnh vào sáng sớm,lúc đầu mũi cảm thấy ngứa sau đó chảy nước ra nhiều không dứt,sau đó là mùi bị nghẹt,niêm mạc mũi khô trắng,khi nắng ấm lên thì đỡ dần có thể kèm váng đầu,mệt mõi,thở mệt,tiếng nói nặng đục,mồ hôi tự ra,sợ lạnh.Có 2 nguyên nhân gây sổ mũi là cảm cúm hay viêm mũi xuất tiết.

*Nếu baby chảy mũi liên tục,màu xanh đục,khuôn mặt VA(2 bên mặt phình)phải nạo VA thì nước mũi mới hết chảy,nhưng nạo VA sẽ mất miễn dịch cơ thể

-BN nằm ngữa,dùng đèn soi vào mũi,thấy cục dư polip sẽ gây nghẹt mũi,dùng thuốc nhỏ mũi lâu ngày niêm mạc mũi sẽ chai và chết.Nên xông dầu xanh (hay dầu khuynh diệp,bạc hà)hay dùng viên thuốc tragutan (gồm gừng + tần dày lá còn gọi là húng chanh),hay Eugica (gồm khuynh diệp + tần dầy lá).Có thể dùng gừng tươi và tần dầy lá giã nát cho vào bình (loại bình đựng trà) + nước sôi đậy nắp bình,kê 1 bên mũi vào miệng bình xông,sau đó đổi bên,gừng cay vào phế,tần dầy lá mùi kích thích hô hấp,nhiệt làm hết  môi trường ẩm,diệt khuẩn.Hoặc dùng tinh dầu mùi thơm giúp sát trùng,kích thích  hô hấp hoạt động,xông khoảng 2-3 ngày sẽ hết,bình thường chỉ xông 1 lần 72% hết bịnh

VIÊM MŨI CẤP

Nhỏ mũi lâu ngày niêm mạc sẽ chai,và chết,tổn thương các hệ miễn dịch đối giao cảm,bấm hợp cốc (1 trong lục tổng huyệt trị bệnh về đầu mặt),tỵ thống điểm (tỵ là mũi)ấn đau là huyệt đặc hiệu dùng chữa về mùi,có thể dùng đá trắng (ngón cái mở rộng gần ở nếp gấp trên lằn cổ tay khi úp,hay phía trong ngón cái thẳng xuống phía trên cổ tay,chỗ lõm).Sau đó bấm ấn đường (chất endo morphin,hoặc để 1 -2 giọt tinh dầu ở ấn đường dùng khăn nóng đắp lên trên huyệt giúp dễ chịu),nghinh hương (đón mùi thơm,dùng dầu xanh day).Tỵ thông (chỗ lõm trên 2 cánh mũi),thượng nghinh hương đặc hiệu chữa viêm mũi dị ứng (từ đuôi mắt trong thẳng xuống mũi 1 thốn).Dùng tay đẩy(chà) lên xuống dọc theo 2 bên mũi.

1)Mật ong + bột gừng trộn đều nhét vào mũi,mật ong vị ngọt can nhi tán chi,độ dinh dưỡng đậm đặc (nhỏ trong nước không tan)no nước khi hoà với gừng thấm từ từ vào mạch máu,làm ấm nóng (không cay,giúp hết lạnh,không hắt hơi sổ mũi

2)Nữ sau khi sinh bị sản uất (huyết vận)-bất tỉnh,dùng hành giã nát kê vào mũi-biện pháp thông quan tán.Hoặc dùng khí amoniac (chứa trong ống thuỷ tinh,hoặc thuốc dùng uốn tóc)thấm vào bông gòn kê vào mũi chữa bất tỉnh.Lưu ý nếu để bất tỉnh lâu lượng ôxy không đưa vào não 5’ sẽ gây chết não,hệ tuần hoàn không làm việc,máu huyết không lưu thông

VIÊM MŨI MẠN cách chữa # viêm cấp bấm thêm phế,đại trường,thái uyên

VIÊM MŨI DỊ ỨNG (dị ứng phấn hoa,dị ứng hơi lạnh của máy lạnh….)

Hắt hơi liên tục nhiều vào buổi ság,nếu nặng gây mệt mõi,bơ phờ,không ăn,không ngủ không lao động được,xoa 2 bên cánh mũi từ trên xuống,bấm phế,đại trường,thái uyên,phế du (nơi rót kinh khí trực tiếp vào phế),hợp cốc,ty thống điểm

VIÊM XOANG

Bình thường khi chụp phim các xoang màu đen,nếu màu trắng  hay vàng = có mủ.Thông thường bị xoang sàng (gắn liền sau vai)

Khi bị xoang sàng đau sau gáy,thời gian đau từ 9 giờ sáng trở lên,càng nắng lên càng đau,kèm theo đau đầu,đau trán(dựa theo phim chụp và triệu chứng lâm sàng)đau không chịu nổi,chảy nước mũi.Kích thích dọc 2 bên cánh mũi,bóp dọc 2 bên sóng mũi,day thái dương (nơi tập trung các mạch máu,hoặc chấm tinh dầu quế ở thái dương,đắp khăn ấm lên,rau húng quế tác dụng thư giãn dây TK sọ não),huyệt ế phong,cỏ hôi (có thể xông)hay giã nát chấm bông gòn nhét vô lỗ mũi.Hoặc ngó sen tươi 10-15g,gừng tươi 4-6g giã nát,nằm ngữa đắp lên trán 30’ngồi dậy (chuẩn bị sẵn cái thau)sẽ ọc chất dơ ra từ mũi miệng

RỮA MŨI:muối 10g + 1 lít nước sôi quấy đều,lọc sạch,cho vào bình,hít nước muối vào 1 bên mũi cho chảy ra bên kia,đổi bên,làm 2-3 lần

VIÊM HỌNG kèm ngứa trong họng,khan tiếng,có khi sốt nhức đầu,đau họng khi nuốt,do vi khuẩn stretocoque tấn công vào họng,khớp,tim.Baby khi bị viêm họng hay bị tim “thấp khớp đớp tim”,nếu viêm họng không chữa liền,mấy ngày sau  sẽ đau đầu gối (khớp),đớp tim.Chích nặn máu huyệt thiếu thương (tĩnh huyệt đk phế),quan xung (nếu chích 9 giờ sáng thì 12 g sẽ ăn được),khi chích nặn máu sẽ rút tà độc ra mau hơn

-Tắc chẻ 2 bỏ hạt + mật ong chưng(vị cay thông phế khí,vị chua vào gân cơ)mật ong ngọt làm mềm hết đau

VIÊM AMIĐAM

Baby sốt cao có 2 trường hợp do viêm tai giữa hay viêm amiđam.Nếu viêm amiđam day ngược chiều huyệt amiđam ở chân (lòng ngón cái,giúp hạ sốt),đại lăng,thương dương,quan xung,thiếu thương (đại lăng nguyên huyệt đk tâm

bào:màng bao tim,giúp mạnh cơ tim lên vì vi khuẩn stretocoque tấn công mang bao tim)

*THÈM MA TUÝ nhai hồng khô hay hồng tươi sẽ lướt qua được cơn thèm

KHA TỬ đã sấy khô,chặt miếng nhỏ,bỏ hạt,giã giập,chữa đau họng.Dùng 8g kha tử,6g cam thảo,10g cát cánh sắc uống hàng ngày,uống từ 10-15 ngày (ngưng 5 ngày)uống tiếp 10-15 ngày sẽ hết amiđam

HỌNG CÓ CẢM GIÁC VƯỚNG (MAI HẠCH KHÍ)

Họng không sưng nhưng nuốt vào có cảm giác có vật cứng,khạc không ra nuốt không xuống,cảm giác có dị vật ở cổ,cảm giác khác thường do tinh thần gây ra,đông y cho rằng đa số do tình chí uất kết,đờm khí ngưng trệ ở họng gây nên.Huyệt cảnh yết khu (tay úp nằm ngang cuối khe 2,3,hoặc từ trên 2 cục xương trỏ 2,3 xuống 1 ngang ngón tay:chữa đau gáy,họng,cổ).Bấm thêm đại tràng ,thiếu thương,nhĩ tuyết khu,hãm cốc thông cổ kích thích ăn uống

*Em bé lỡ nuốt trái mơ,hạt chôm chôm bị vướng ở cổ:bóp mạnh gian sử hay cảnh uyết khu sẽ hết